Lưu trữ

Author Archive

Phòng trách rủi ro cho bé – Bộ sách an toàn

Bộ “Để tránh những rủi ro” gồm 4 cuốn. Mỗi cuốn là một chùm 3-4 chuyện nho nhỏ về chú gấu con Pa-tu. Qua những chùm chuyện này, các bé 0-6 tuổi sẽ hiểu được nguyên nhân vì sao khiến chúng ta đôi khi gặp phải những rắc rối nho nhỏ như bị bỏng rát, bị nhức buốt, bị đứt tay, bị ngứa… Cùng với sự nhắc nhở và giúp đỡ của cha mẹ, các bé sẽ dễ dàng vượt qua những rủi ro không đáng có này và biết cách phòng ngừa để chúng không lặp lại với mình.

Ui da, buốt quá!

Trong cuốn “Ui da, buốt quá!”, các bé sẽ thấy rằng một bụi cây gai, một con ong hay những hạt cát, v.v… có thể là nguyên nhân khiến chúng ta bị nhức buốt. Làm thế nào để phòng tránh những rủi ro nho nhỏ đó? Hãy cùng đọc câu chuyện về chú gấu nhỏ Pa-tu để biết câu trả lời nhé!

Ui da, đứt tay rồi!

Trong cuốn “Ui da, đứt tay rồi!”, các bé sẽ thấy rằng một chiếc cốc vỡ, cái kéo, dao cạo, hay những ngọn cỏ sắc, v.v… có thể là nguyên nhân khiến chúng ta bị đứt tay, chảy máu. Cần phải làm thế nào để tránh những rủi ro nho nhỏ này? Hãy cùng đọc câu chuyện về chú gấu con Pa-tu để biết câu trả lời nhé!

Ui da, nóng quá!

Trong cuốn “Ui da, nóng quá!”, các bé sẽ thấy rằng một chiếc lò nướng, bàn là, món súp mẹ vừa nấu xong, hay thậm chí là ánh nắng mặt trời, v.v… có thể là nguyên nhân khiến chúng ta bị bỏng rát. Làm cách nào để phòng tránh những rủi ro nho nhỏ đó? Hãy cùng đọc câu chuyện về chú gấu nhỏ Pa-tu để biết câu trả lời nhé!

Ui da, ngứa quá!

Trong cuốn “Ui da, ngứa quá!”, các bé sẽ thấy rằng những nốt muỗi đốt, chiếc áo len mới, những con chấy, hay những bụi cây dại v.v… có thể là nguyên nhân khiến bạn ngứa ngáy khó chịu. Cần làm gì để tránh cảm giác này? Hãy đọc những câu chuyện về chú gấu Pa-tu để biết cách phòng tránh nhé!

(Mua sỉ, liên hệ để được giá tốt: 0987 64 3939)

BÍ MẬT TỬ VI ĐẨU SỐ

BÍ MẬT TỬ VI ĐẨU SỐ

NGƯ ÔNG BẤT NGỘ ĐÀO NGUYÊN KHÁCH

KHỞI THỨC HƯNG VONG THẾ CỐ KIM

- Lần đầu tiên bí mật ngàn năm của môn TỬ VI ĐẨU SỐ được khám phá và công bố trong quyển sách này.

- Tất cả các sao được chứng minh bằng nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành hết sức rõ ràng.

- Sách đề ra phương pháp luận giải NHÂN MỆNH một cách khoa học, đơn giản nhằm giúp độc giả phán đoán các tình thế trong cuộc sống và tìm ra biện pháp ứng xử hợp lý.

- Môn TỬ VI ĐẨU SỐ chính là mộ bộ kinh Dịch thu nhỏ để hướng dẫn cho con người có lối sống hợp với tự nhiên. Bởi vậy nghiên cứu TỬ VI ĐẨU SỐ là để học MỘT TRIẾT LÝ SỐNG.

Bạn nghiên cứu Tử vi đã lâu nhưng vẫn chưa xem được lá số cho mình và cho người thân? Bạn nghĩ mình không có duyên học môn Tử vi? Sách Tử vi vừa nhiều, vừa mông lung, lại khó hiểu nên bạn không biết phải bắt đầu từ đâu? Bạn đang rất cần một ngọn hải đăng để soi đường chỉ lối trong khu rừng rậm của Tử vi?

Cuốn “Bí Mật Tử Vi Đẩu Số” ra đời chính là để đáp ứng mong ước đó của bạn.

Những bí mật về Tử vi đã được tác giả giải mã và lần đầu tiên được công bố trong cuốn sách. Nhưng quan trọng hơn, cuốn sách sẽ trang bị cho bạn một nền tảng kiến thức đầy đủ và đúng đắn về Tử vi để từ đó bạn có thể phát triển và hoàn thiện các kỹ năng xem lá số của mình.

Cuốn sách được trình bày một cách hệ thống và dễ hiểu để những người mới học hay chỉ có chút hiểu biết về Tử vi có thể lĩnh hội được những kiến thức quan trọng về Tử vi. Cuốn sách cũng mang tính thực tiễn và cung cấp cho bạn đọc các “chiêu thức” để sau khi đọc xong có thể tự xem ngay được các lá số cho mình và cho người thân.

Cuốn sách được viết bởi tác giả Nguyễn Đăng Quang. Sau 28 năm say mê tìm tòi và suy ngẫm về Tử vi anh đã quyết định chia sẻ những khám phá của mình với mọi người. Cuốn sách đã được tác giả ấp ủ từ năm 2006 và anh đã kỳ công suy đi nghĩ lại, chỉnh sửa bản thảo nhiều lần trước khi in ra thành sách cho bạn đọc.

Từ nhiều năm nay, tác giả (với nick Long Nguyễn Quang) cũng là người tích cực tham gia viết các bài nghiên cứu về Tử vi và xem giúp lá số cho mọi người trên các diễn đàn Tử vi và Lý số.

Hy vọng cuốn sách “Bí Mật Tử Vi Đẩu Số” sẽ là ngọn hải đăng soi sáng về Tử vi mà các bạn yêu thích môn Tử vi hằng tìm kiếm bấy lâu nay.

MỌI THẮC MẮC BẠN ĐỌC để được phúc đáp về Nội dung Sách – HÃY GỬI VỀ CHO TÁC GIẢ, Email: thienrieu@yahoo.com.vn

MUA SÁCH: http://www.giadinhbook.com.vn/bi-mat-tu-vi-dau-so.htm

(Mua sỉ, liên hệ để được giá tốt: 0987 64 3939)

Categories: Uncategorized

Con Thuyền – Tg. Nam Lê

Sở dĩ Con thuyền – một tác phẩm đầu tay – có khả năng khuấy đảo văn đàn với lời tán thưởng vang dội từ khắp mọi châu lục, có thể đưa một luật sư trẻ gốc Việt vô danh ở Úc trở thành một trong những nhà văn sáng giá được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ là bởi nó đã dùng ngòi bút ma lực vẽ nên một hành trình phi thường vòng quanh thế giới từ New York khuất lấp bao hối hận đau đớn tới ngoại ô Melbourne nhiều uẩn khúc, từ một đêm Tehran ngột ngạt bức bối tới buổi sáng trong vắt khi chiếc B-29 Enola Gay đi vào không phận Hiroshima, từ những cao nguyên Columbia khát máu tới những thuyền nhân Việt Nam đói nước. Từng thề sẽ không bao giờ viết truyện dân tộc, nhưng cuối cùng Nam Lê lại dấn thân khám phá những miền đất trên địa cầu với tư cách người trong cuộc, biểu lộ ở cả sự am hiểu tường tận lẫn mối quan tâm sâu sắc, như thể vẻ đẹp cùng nỗi đau của mỗi xứ sở đều thấm đẫm lương tâm của người viết. Với Nam Lê, đó vừa là trách nhiệm, vừa là tham vọng của một cây bút sung sức trên con đường trở thành nhà văn quốc tế.

***

Đôi nét về tác giả Nam Lê

Nam Lê tên thật là Lê Hữu Phúc Nam, sinh năm 1978 tại Rạch Giá, Kiên Giang. Ba tháng tuổi, Nam Lê theo gia đình vượt biên sang Úc. Tại đây, anh trở thành luật sư và âm thầm theo đuổi nghề văn. Năm 2008, Con thuyền – tập truyện ngắn đầu tay của anh – gây tiếng vang lớn khi giành được nhiều giải thưởng từ nhiều quốc gia, trong đó quan trọng nhất là giải PEN/Malamud Award. Tác phẩm này được đông đảo độc giả cùng giới phê bình nhiệt liệt tán thưởng, đưa Nam Lê vào hàng những nhà văn trẻ nổi tiếng nhất thế giới hiện nay, mở đường cho anh tới Mỹ chuyên tâm sáng tác. Con thuyền đã được xuất bản tại hàng chục nước.

Các giải thưởng khác dành cho Nam Lê và tác phẩm:

- Dylan Thomas Prize (2008)

- U.S. National Book Foundation “5 Under 35″ Fiction Selection (2008)

- Sydney Morning Herald Best Young Novelist Award (2009)

- Australian Book Industry Award for Newcomer of the Year (2009)

- Australian Prime Minister’s Literary Award (2009)

- Melbourne Prize for Literature (Best Writing Award) (2009)

- PEN/Malamud Award for Excellence in the Short Story (2010)

- Kathleen Mitchell Award (2010)

***

Lời khen tặng dành cho Con thuyền

“Sự khẩn thiết nhiệt thành và đầy cảm xúc của Nam Lê trao cho ngòi bút nhà văn một sức mạnh bản năng vĩ đại.”

- New York Times

“Nam Lê đã viết một tập truyện ngắn về cả thế giới, mỗi nhân vật đều điển hình và sống động, mỗi mẩu truyện đều phong phú sánh ngang một tiểu thuyết. Rất đáng đọc.”

- Library Journal

“Thể loại truyện ngắn bấy nay vẫn thường đứng trong danh sách đỏ, nhưng tuyển tập cực kỳ ấn tượng của nhà văn người gốc Việt Nam này cho thấy rằng nó vẫn sống và sống rất mạnh. Truyện nào cũng đòi hỏi phải đọc chậm rãi và đọc hơn một lần.”

- Times

“Một tác phẩm đầu tay tinh tế và mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Tự tin tột bậc.”

- Kirkus Reviews

“Trong tuyển tập truyện ngắn xuất thần này, Nam Lê đã chưng cất thời gian và trải nghiệm.”

- Union Tribune

“Còn rất trẻ nhưng Nam Lê đã là một nhà văn điêu luyện và toàn vẹn một cách lạ thường.”

- San Francisco Chronicle

“Điều kỳ diệu ở những truyện ngắn này là tác giả, với sự khéo léo và dụng công, đã sử dụng giọng văn khách quan để đi đến tận cùng sự thật.”

- Sun

“Đặt bên nhau, bảy truyện ngắn của Nam Lê bao phủ một không gian địa lý bao la và đong đầy những khoảnh khắc phát lộ đau xót, được viết dưới ngòi bút hết sức tinh tế.”

- Publishers Weekly

***

Trích Con thuyền

Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh
và cảm thông và hy sinh

Ba tôi đến vào một buổi sáng trời mưa. Tôi đang mơ về một bài thơ, tiếng lọc cọc đều đều của bàn phím máy chữ tuôn ra các từ. Đó là một bài thơ hay – có thể là bài hay nhất tôi từng viết. Khi tôi mở mắt, ba đang đứng ngoài cửa phòng ngủ, mỉm cười mơ hồ. Ông mặc quần đen và một cái áo khoác vải dù ướt nhẹp nhàu nát như vừa lấy từ máy giặt ra. Đóng khung bởi khuôn cửa phòng ngủ, ông trông nhỏ bé hốc hác hơn là trong trí nhớ của tôi. Vẫn còn đờ đẫn bởi giấc mơ, tôi nhấc đầu về phía đồng hồ báo thức.

“Mấy giờ rồi ba?”

“Chào con trai,” ông nói bằng tiếng Việt. “Ba gõ cửa nãy giờ lâu lắm. Rồi nó tự mở.”

Những cánh đồng thủy tinh, tôi nghĩ. Rồi tum-ti-ti, một dactyl, hết dòng, rồi từ lý do và hợp kim ở dòng tiếp theo. Tiếp nào, tôi nghĩ.

“Đang mưa to lắm,” ba nói.

Tôi cau mày. Đồng hồ chỉ 11:44. “Con tưởng chiều ba mới tới.” Cảm giác nói tiếng Việt lần đầu tiên sau một thời gian dài nghe thật lạ.

“Họ đổi chuyến bay của ba ở Los Angeles.”

“Sao ba không gọi điện?”

“Ba có gọi,” ông điềm tĩnh nói. “Không ai trả lời.”

Tôi trở người sang một bên giường và mở tung cửa sổ. Tiếng mưa tràn ngập phòng – mưa rơi trên phố, trên mái nhà, trên cái lán thiếc đựng dụng cụ bên kia bãi đỗ xe nghe như tiếng pháo rền xa xa. Mọi thứ đều mang mùi lá ẩm ướt.

“Con tắt chuông điện thoại khi ngủ,” tôi nói.

Ông vẫn cười với tôi, một cách ngụ ý, như đang đợi một lời tuyên bố.

“Con đang mơ.”

Khi tôi còn nhỏ, ba thường đánh thức tôi bằng cách cúi xuống bên giường vỗ nhẹ vào má tôi. Tôi ghét điều ấy, cái ẩm ướt, chua chua của bàn tay ba.

“Thôi dậy nào,” ông nói, nhấc chiếc túi Adidas và một gói cuộn tròn nhìn như túi ngủ. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn.” Ông có thói quen dùng tục ngữ Việt Nam khi nói. Từ lâu tôi đã học cách lờ đi điều này.

Tôi tròng cái áo thun vào người và vươn cổ nhìn ra cửa sổ độc nhất trong phòng. Qua màn mưa, bầu trời xám xịt và rạn nứt như than chì. Những cánh đồng thủy tinh… Như một hình thể bằng khói, bài thơ mờ đi rồi tan vào cái hiện thực mới, xa lạ và lạnh lẽo này: bãi đỗ xe gió lộng và mưa quất, căn phòng tối gần như bị chiếc giường chiếm trọn, nước chảy nhỏ giọt từ thân hình nhỏ bé của ba xuống sàn gỗ.

Tôi tới gần ông, chân nổi da gà dưới quần ngủ. Với vẻ thản nhiên thân thiện, ông quan sát tôi đưa tay ra bắt một tay ông, rồi đỡ mấy cái túi ra khỏi tay kia. “Ba chắc mệt lắm rồi,” tôi nói.

Ông bay từ Sydney, Úc. Tổng cộng là ba mươi ba tiếng – chuyển tiếp ở Auckland, Los Angeles và Denver – trước khi hạ cánh ở Iowa. Đã ba năm rồi tôi chưa gặp ông.

“Ba ngủ trong phòng con.”

“Sang quá,” ông nói trong khi dẫn tôi đi quanh căn hộ của chính tôi. “Con có cả đàn piano.” Ông nhìn tôi cười gần như rầu rĩ. “Ba biết con không bao giờ bỏ hẳn đâu.” Có cái gì đó lay động phía sau mặt ông và tôi thấy hình ảnh mình xưa kia ngồi trên chiếc ghế đẩu kê cao, các ngón tay đuổi theo máy đánh nhịp, trước và sau, cố bỏ ngoài tai tiếng thở dài liên tục của thầy dạy nhạc, cái thước sắt dày nặng của thầy. Tôi nhận ra tôi đang nắn bóp các đốt ngón tay của mình. Ba vỗ vào cái ghế xếp trong phòng khách. “Ba sẽ ngủ ở đây.”

“Ba ngủ trong phòng con, ba.” Tôi thấp thỏm nhìn ông thăm dò không gian xung quanh chúng tôi, lộn xộn sách, giấy, đĩa, tách, quần áo bẩn – tôi đã định sẽ dọn dẹp trước khi ra sân bay. “Đằng nào con cũng làm việc trong phòng này, mà con lại làm vào buổi tối.” Khi ông đi vào bếp, tôi cầm chai Johnnie Walker còn đầy đến ba phần tư để trên ngăn kệ thứ hai lên giấu xuống dưới bàn viết. Tôi nhìn quanh. Cái máy tính để bàn nhớp nhúa tàn thuốc. Tôi quăng mấy tờ tạp trí lên che những chỗ bừa bộn nhất, rồi lật úp một quyển bìa có hình chủ tịch Mao Trạch Đông. Tôi vội vã thu hết các bao thuốc lá, thuốc ngủ, đế nến thơm và bỏ hết lên trên một cái kệ cao, đằng sau các tác phẩm của Kafka do Vintage Classic xuất bản.

Tại cửa kéo phòng bếp, tôi chợt nhớ đến tấm ảnh của Linda bên cạnh máy in. Tôi gọi nó là kiểu ảnh quyến rũ của em: tóc gió thổi ra sau và mắt nheo, đang cười với cái gì đó ở ngoài khung ảnh. Một trong các bạn trai cũ của em chụp ảnh đó ở hồ MacBride. Em trông hạnh phúc. Tôi vớ lấy nó lật úp xuống, phủ giấy nháp lên trên.

Khi đi vào bếp, trong một khắc tôi nghĩ mình đã để mở cửa thoát hỏa. Tôi có thể nghe thấy tiếng nước mưa chảy ồ ồ trong lòng máng xuống ống thoát nước. Rồi tôi thấy ba đang đứng cạnh bồn, tay áo xăn lên, giẻ rửa bát trên tay, rửa đống bát đĩa đóng bựa dồn lại từ một tháng nay. Mùi bốc lên đáng sợ. “Ba,” tôi cau mày, “ba không cần làm thế.”

Tay ông, rắn rỏi và dẻo dai, chuyển động khéo léo trong bồn.

“Ba,” tôi nói, miễn cưỡng.

“Ba sắp xong rồi.” Ông nhìn lên mỉm cười. “Con ăn chưa? Con muốn ba nấu cơm trưa cho con không?”

“Thôi,” tôi nói, tự dưng thấy bực mình. “Ba mệt lắm rồi. Con sẽ đi mua gì đó về.”

Tôi quay lại phòng ngủ qua phòng khách, đi đến đâu là thu dọn quần áo và rác đến đấy.

“Con không phải lo cho ba,” ông gọi với theo. “Con cứ làm mọi việc như bình thường thôi.”

Sự thật là ông đã đến vào thời điểm tồi tệ nhất. Tôi đang ở năm cuối Khóa tập huấn nhà văn trẻ ở Iowa; giờ là cuối tháng Mười một và tôi phải nộp truyện ngắn cuối kỳ trong ba ngày nữa. Tôi có một chồng bài phải chấm và một đống hồ sơ xin việc và xin học bổng cần phải viết để nộp. Không lạ là dạo này tôi uống nhiều vậy.

Chỉ tới tận đêm trước tôi mới kể với Linda rằng ông sắp đến. Chúng tôi đang ở nhà em. Cơ thể em trơn mồ hôi thật khó mà ôm. Cơ thể em mang mùi quần áo em. Em lật tôi xuống, mặt tôi chạm nhẹ tấm ga trải giường, rồi em lấy sống tay chém lưng tôi. Cao hơn. Ra ngoài một tí nữa. Em khó giữ nhịp điệu đều đặn. “Nhẹ hơn,” tôi bảo em. Mấy phút sau, tôi bắt đầu cười thành tiếng.

“Sao?”

Mặt tôi ép vào tấm ga trải giường ẩm.

“Sao?”

“Nhẹ hơn,” tôi nói, “không phải chậm hơn.”

Em lấy lòng bàn tay vỗ vào lưng tôi, mạnh – một lần, hai lần. Tôi không thể nín cười. Tôi lật người lại và nắm lấy cổ tay em. Bị kéo về phía trước, em đỏ bừng, tuyệt đẹp. Tóc em đổ xòa xuống mặt; bên dưới đường viền hoe xám ấy, tôi chỉ có thể thấy đôi môi hé mở của em. Em nằm sát xuống người tôi, bờ vai em nhô lên đường cong dài mảnh từ gáy tới cái lưng thon. “Đừng anh!” môi em nói. Em giật tay ra. Các ngón tay em dưới thắt lưng tôi, bạo liệt, móng tay em cào đùi tôi, đầu gối, cổ chân. Tôi duỗi thẳng mũi chân như một nghệ sĩ múa ba lê.

Một lúc sau, tôi nói với em rằng ba tôi không biết về em. Em không nói gì. “Chỉ vì ba anh và anh không nói về những chuyện như thế,” tôi giải thích. Em nhìn như một diễn viên, người trông giống bạn gái của tôi. Nhìn chăm chú vào mặt em làm tôi mệt mỏi. Gần đây, tôi bắt đầu hay cảm thấy thế hơn khi ở gần em. “Ông chỉ ở đây ba ngày thôi.” Ở đâu đó không nhìn thấy, một đám sinh viên nam huýt sáo và gào thét.

“Em tưởng anh không hề nói chuyện với ba anh cơ mà.”

“Ông ấy là ba anh.”

“Ông muốn gì?”

Tôi lăn về phía em, tì người lên khuỷu tay. Tôi cố nhớ lại xem tôi đã kể với em bao nhiêu về ông. Chúng tôi đang nằm trên giường, gió thổi xào xạc trong phòng – tôi vẫn nhớ điều ấy – và cả hai đều say. Giọng của chúng tôi có thể là hai giọng bất kỳ nào trong bóng tối. “Chỉ ba ngày thôi mà,” tôi nói.

Vẻ mặt em trông lạ lạ, kín bưng. Em nhìn tôi cân nhắc một lúc lâu. Rồi em trở dậy, mặc quần áo. “Anh nhớ viết xong truyện ngắn là được,” em nói.

TÔI UỐNG TRƯỚC CẢ KHI ĐẾN ĐÂY. Tôi uống khi còn là sinh viên đại học và cả khi đã là một luật sư – trong cuộc đời trước của tôi, như người ta thường nói. Gần chỗ tôi làm việc có một cái quán dưới tầng hầm một khách sạn, tối nào tôi cũng vào đó, ngồi phịch lên cái ghế cạnh quầy bar và giả vờ không muốn anh phục vụ nói chuyện phiếm với mình. Anh ta chỉ lớn tuổi hơn tôi một chút, thế nên tôi thấy ghen với sự thoải mái, với sự tự tin của anh rằng bất cứ tình huống nào cũng chỉ là tạm thời. Tôi để lại tiền boa ngất ngưởng. Chẳng mấy chốc tôi được quán bar chiêu đãi tôm bao bột và bánh nhân thịt cừu. Lúc đó ba má tôi đã chia tay, ba chuyển tới Sydney, má chuyển vào một căn hộ của chính phủ.

Đó là tất cả những gì tôi làm từ trước đến nay, buôn chữ. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về số từ theo cách một viên tướng nghĩ về số thương vong. Tôi đã ở Iowa hơn một năm – ngày trôi qua theo tuần, tháng và rồi hơn một năm bao gồm những ngày – thế mà tôi chỉ viết được có ba truyện rưỡi. Khoảng mười bảy ngàn từ. Lúc còn làm việc ở hãng luật, tôi có lẽ đã viết được từng ấy từ trong vài tuần. Và chúng hẳn đã có ích cho ai đó.

Hạn nộp truyện đến, thật mệt mỏi, tôi gồng mình viết cho kịp. Để rồi sau đó, trong khoảng thời gian dài giữa các hạn nộp, tôi quay trở về với màn hình trống trơn và đầu óc dần dần trở nên mụ mị. Tôi thử đủ thứ – viết tay, viết trên giường, viết trong bồn tắm. Thời hạn nộp truyện cuối cùng đến gần, tôi nhớ tới một người bạn nói rằng anh đã vượt qua được sự bế tắc ý tưởng khi chuyển sang dùng máy đánh chữ. Cậu tự do viết, anh ta nói, khi cậu biết cậu không thể xóa được những gì đã viết. Tôi mua một cái máy đánh chữ điện hiệu Smith Corona ở một cửa hàng đồ cổ. Khi tôi cắm điện vào, nó kêu như một cái bể cá nhiệt đới. Để trên bàn, nó nhìn khá đẹp. Tôi đọc những bài thơ kiểu cách đến ngớ ngẩn thời Victoria và uống rượu Scotch nguyên chất để tìm cảm hứng. Sao có thể khó đến thế được? Thế giới này lúc nào chẳng có chuyện xảy ra. Tôi chỉ phải ghi lại thôi. Trên trời, hai bầy chim sẻ hội lại, rồi chia ra, rồi lại đan lẫn với nhau như những tấm voan trôi bồng bềnh trên sóng. Đứng xếp hàng trong siêu thị, người phụ nữ da đen cúi về phía trước chạm môi vào tay cầm xe đẩy hàng, da cô đen mượt như hộp gỗ láng bóng của đàn dương cầm.

Tuần trước khi ba tôi đến, một người bạn đã phê phán chủ nghĩa thất bại cố hữu của tôi.

“Bế tắc ý tưởng?” Miệng anh ta phà ra hơi rượu bourbon dưới ánh đèn đường. “Sao cậu có thể bế tắc ý tưởng được? Cứ viết một truyện về Việt Nam ấy.”

Chúng tôi vừa trở về từ một bữa tiệc sau buổi đọc truyện của một tác giả thành công gần đây nhất của khóa tập huấn, một phụ nữ Trung Quốc đang cố nhập cư vào Mỹ, cô đã viết tuyển tập truyện ngắn về những nhân vật người Trung Quốc trong quá trình nhập cư vào Mỹ. Các truyện ngắn đều hay và tinh tế. Có tin đồn rằng cô đã được mời ký một hợp đồng sáu chữ số để viết hai quyển sách. Theo luật bất thành văn, những điều như thế này sẽ không được ai đề cập tới. Nhưng tất nhiên, đó là tất cả những gì mọi người bàn tán.

“Đang nổi đấy,” một thầy dạy viết văn nói với tôi tại một quán bar. “Văn học dân tộc đang rất nổi. Và quan trọng nữa.”

Đại diện của một số nhà văn tới thăm khóa tập huấn cũng có quan điểm tương tự: “Có rất nhiều những áng văn bóng bẩy quanh đây,” một trong số họ nói. “Các bạn phải tự hỏi bản thân, cái gì làm mình nổi bật?” Cô ta chỉ định một đồng nghiệp của mình, người này trả lời chậm rãi như thể ngâm kinh, “Hoàn cảnh xuất thân và kinh nghiệm sống của các bạn.”

Các bạn khác thì thẳng thắn hơn: “Tớ ngấy văn học dân tộc lắm rồi,” một cậu nói. “Rặt mô tả thức ăn nước ngoài.” Hoặc: “Chẳng biết được ngôn ngữ nghèo nàn là do tác giả chủ định thế hay là do không đủ vốn từ?”

Tôi được nghe kể về một người bạn của một người bạn là dân Washington, D.C., tốt nghiệp trường Harvard, đã đứng chụp ảnh bìa cho quyển sách của anh ta trong trang phục Nigeria truyền thống. Tôi hình dung bản thân mình đội nón đứng giữa ruộng lúa. Rồi tôi hình dung ba đứng trên cùng ruộng lúa đó, mặc quần áo lao động xơ xác, trẻ trung và nghiêm nghị.

“Đấy là cách làm độc giả chán ớn,” bạn tôi nói. Chúng tôi đều say và đang dắt xe đạp bởi lốp của cả hai đứa đã lần lượt bị thủng trên đường đến dự tiệc.

“Nhân vật lúc nào cũng nhạt nhẽo, chung chung. Chỉ cần nhà văn Tàu viết về người Tàu, hoặc nhà văn Peru viết về người Peru, hoặc nhà văn Nga viết về người Nga…” cậu ta nói, như đang ngâm vè trẻ con, rồi ngừng lại bởi lạc dòng suy nghĩ. Miệng cậu cong lên thành một điệu cười nghi hoặc. Tôi biết cậu ta đang giận dữ về một điều gì đó.

“Nhìn kìa,” tôi nói, chỉ vào một hiên nhà sáng choang trước mặt chúng tôi. “Mấy thằng kia có súng.”

“Chỉ cần có một hình ảnh thú vị hoặc một ẩn dụ trong mỗi chừng này dòng…” Cậu ta giơ ngón trỏ và ngón cái phác ra độ nửa trang, xe đạp nghiêng ngả trên vỉa hè. Tôi gật đầu với cậu ta, rồi gật đầu với một trong mấy gã trai trên hiên, gã gật đầu lại với tôi. Một chiếc ô tô đèn pha sáng choang đang đậu ở lối vào nhà, và giọng mấy đứa con gái thét ra từ bên trong, “Đừng bắn! Đừng bắn!”

“Cậu biết không,” bạn tôi nói át tiếng hét, “Faulkner nói rằng chúng ta nên viết về những chân lý cổ điển. Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh và cảm thông và hy sinh.” Đột ngột có một tiếng cạch ngắn ngủn đằng sau chúng tôi nghe như tiếng gõ của phím một cái máy chữ khổng lồ, tiếp theo là một vài tiếng hét nghẹn lại. “Tớ biết tớ là người xấu khi nói điều này,” bạn tôi nói, “nhưng đó là lý do tại sao tớ không ngại tác phẩm của cậu, Nam ạ. Bởi vì cậu có thể lúc nào cũng chỉ viết về thuyền nhân Việt Nam. Như trong truyện thứ ba của cậu.”

Cậu ta hẳn phải nghĩ tôi đang cúi đầu xuống khiêm nhường, nhưng thật ra tôi đang cố xem coi có phải mình vừa bị bắn vào sau đùi không. Tôi thấy đau nhói. Viên đạn chắc đã bắn trúng cái gì đó.

“Cậu có thể chuyên trị khai thác cái đề tài Việt Nam ấy. Nhưng thay vào đó, cậu chọn viết về ma cà rồng đồng tính và những kẻ sát nhân Columbia, và trẻ mồ côi Hiroshima – và những họa sĩ New York bị bệnh trĩ.”

Trong một khoảnh khắc như đang mơ, tôi giật thột mình. Bị xếp hạng như vậy, dưới hơi thở hôi mùi rượu của cậu ta, các truyện của tôi trở nên thật tầm thường. Chân tôi vẫn nhói đau. Tôi tưởng tượng sẽ sờ tay xuống phía sau quần bò, đưa tay ra trước mặt dưới ánh sáng đèn đường và thấy nó đẫm máu. Tôi tưởng tượng mình sẽ quay lại, lừ lừ leo lên hiên nhà và đá túi bụi hai gã trai trẻ. Tôi sẽ kể câu chuyện của mình vào một cái mic từ giường bệnh viện. Tôi sẽ viết truyện ngắn của mình trong một phòng giam của bang. Tôi sẽ giết một trong hai gã đó, có thể là ngộ sát, và không bao giờ nói về điều đó với bất kỳ ai. Không có lỗ thủng nào trong quần tôi.

“Tớ có lẽ là một người xấu,” bạn tôi nói, nghiêng ngả bên cạnh xe đạp của cậu ta vài bước trước tôi.

NẾU BẠN HỎI SAO TÔI TỚI IOWA, tôi sẽ nói rằng Iowa đẹp theo cách bất cứ nơi nào là đẹp: nếu bạn coi nơi này là câu trả lời cho một câu hỏi bạn tự hỏi mình mỗi ngày, chỉ bằng việc sống ở đó.

Buổi chiều ấy, khi tôi đang chuẩn bị tới nhà Linda, ba gọi tên tôi từ phòng ngủ.

Tôi dừng lại ngoài cánh cửa đóng kín. Tôi cứ nghĩ ông đang ngủ trưa.

“Con đi đâu đó?” giọng ông hỏi.

“Đi dạo thôi ạ,” tôi trả lời.

“Ba đi với con.”

Tôi luôn có ấn tượng mạnh rằng trên phố Summit tất cả mọi vật dường như đều có kích thước lớn hơn: các ngôi nhà hai tầng, thảm cỏ trải xuống tới vỉa hè mượt như cỏ sân gôn, các cây du với cành cao to – loại cành cây tôi luôn tưởng tượng các người cha hay treo đu dây lên cho các cô con gái mang váy trắng. Những chiếc lá, từng có màu vàng và đỏ, đang chuyển màu nâu, đỏ cam. Mưa đã tạnh. Tôi không hiểu vì sao nhưng chúng tôi đang đi ở giữa đường, nhựa đường đen sáng ánh dưới những chiếc lá bóng dính như tấm lưng một chú cá voi.

Tôi hỏi ông, “Ba muốn làm gì trong khi ở đây?”

Mặt ông nhợt nhạt, đóng khuôn trong một nụ cười. “Đừng lo cho ba,” ông nói. “Ba có thể chỉ tập thiền. Hoặc đọc.”

“Có một quán cà phê trong trung tâm thành phố,” tôi nói. “Và một quán ăn Nhật.” Nghe thật thê thảm. Tôi chợt nhận ra tôi không biết chút gì về những việc ông làm trong ngày.

Ông vẫn cười, nhìn xuống mặt đường đang chuyển động trước chân.

“Con phải viết,” tôi nói.

“Thì con viết.”

Và tôi không thể đọc được nụ cười của ông nữa. Ông đã hoàn thiện nó trong khoảng thời gian chúng tôi xa cách. Đó là một sự sắp đặt của đôi môi, kín đáo, hầu như không thể nhận thấy, mà hẳn tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu của sự lú lẫn tuổi già nếu như không có vẻ tinh tường của đôi mắt ông.

“Có một bảo tàng nghệ thuật bên kia bờ sông,” tôi nói.

“À, đưa ba tới đó.”

“Tới bảo tàng ạ?”

“Không,” ông nói, nhìn ngang sang tôi. “Tới sông.”

Chúng tôi quay lại đường Burlington và đi xuống đồi tới sông. Ông dừng lại giữa cầu. Nước bên dưới nhìn lạnh và đen, chạy chậm ở vài đoạn vì không chống nổi nhiệt độ. Sau lưng chúng tôi, ô tô trên sáu làn đường trượt đi trượt lại trên làn đá rải đường ẩm ướt, âm thanh nghe như tiếng gió xé.

“Con có nghe tin gì từ má con không?” Ông đứng thẳng trước thành cầu, đầu ông nhỏ một cách kỳ lạ bên trên cái áo lông tơ phùng phình tôi cho ông mượn.

“Thỉnh thoảng thôi.”

Ông trở lại dùng tiếng Việt chuẩn: “Má Nam dạo này sao rồi?”

“Má khỏe,” tôi nói – quá lớn – cố gắng làm cho ông nghe thấy tôi qua tiếng kêu rên rỉ lách cách của một cái xe tải đi ngang.

Ông đang gật đầu. Đằng sau ông, bờ đông của dòng sông hửng lên nhợt nhạt trong ánh sáng buổi chiều. “Đi nào ba,” tôi nói. Chúng tôi qua cầu và đi tới hiệu Dairy Queen gần đó. Khi tôi trở ra với hai cốc cà phê trên tay, ba tôi đã xuống tới bờ sông. Cạnh ông, một thân hình có râu, quấn chặt trong quần áo đang đứng nhìn xuống một cái thùng phi đựng xăng đang cháy. Tôi chưa bao giờ thấy cảnh như thế ở Iowa.

“Đây là con trai tôi,” ba tôi nói, khi tôi đã bò xuống tới bờ sông ướt. “Nhà văn.” Tôi liếc nhanh sang ông nhưng mặt ông không biểu lộ điều gì. Ông nhấc cái cốc giấy nóng ra khỏi tay tôi. “Ông có muốn chút cà phê không?’

“Không, cảm ơn ông.” Người đàn ông đứng im, quan sát hai bàn tay đan vào nhau, lòng bàn tay ửng màu da cam bên trên mép thùng. Giọng ông ta nhẹ nhàng, quần áo nặng nề với cuộc sống của chính mình. Tôi ngửi thấy mùi súc vật ở ông, mùi ga, mùi mưa.

“Tôi đã đọc chuyện của nó,” ba tôi nói tiếp với thứ tiếng Anh lơ lớ, “về thuyền nhân Việt Nam.” Ông nhìn thẳng vào cặp mắt trống trơn, ướt nước của người đàn ông, rồi nói, như đang đọc lời thoại chủ chốt, “Chúng tôi là thuyền nhân Việt Nam.”

Chúng tôi đứng đó thiệt lâu, cả ba người, ngắm nhìn ngọn lửa. Khi tôi ngước mắt lên, trời đã tối.

“Con có tiền trong người không?” ba tôi hỏi bằng tiếng Việt.

“Chào mừng tới nước Mỹ,” người đàn ông nói qua chòm râu. Ông ta không ngước lên lúc tôi khép bàn tay ông lại quanh những đồng tiền ẩm.

BA TÔI BỊ LÔI CUỐN BỞI SỰ YẾU ĐUỐI, dù ông không chịu được bất kỳ sự yếu đuối nào nơi tôi. Ông từng là một người lính, ông nói, cứ như điều ấy giải thích tất cả. Với tôi, ông là toàn bộ các tục ngữ và quy định. Không nói chuyện riêng trên điện thoại. Không bạn gái. Không đọc gì ngoài chương trình học. Khi tôi còn học cấp một, ông bắt tôi vạch ra thời khóa biểu mười tiếng học mỗi ngày trong kỳ nghỉ hè và trừng phạt tôi nếu không làm đúng theo đó. Ông biết cách đánh tôi bằng gậy hai mươi lần mà chỉ để lại một vết lằn thâm tím, như một dấu vết để đời trên mông. Sau đó, khi ông bôi dầu con hổ lên vết thương, tôi khóc trong nỗi giận dữ với bản thân vì đã khóc. Một lần, khi má lỡ miệng nói rằng sầu riêng làm tôi ói, ba bắt tôi phải ăn thứ quả đó trước mặt khách. Đói ăn muối cũng ngon. Tôi học cách ghét ông mà không để lộ mặt.

Khi mười bốn tuổi, tôi phát hiện ra ông đã từng ở trong một vụ thảm sát. Sau này, tôi sẽ nhìn thấy ảnh, các bản tường thuật và sách; nhưng đêm ấy, tại một buổi tiệc ở nhà một người bạn của gia đình ở ngoại ô Melbourne, đó chỉ là một câu chuyện giữa những người đàn ông say. Họ ngồi khoanh chân trên những tờ báo trải quanh một tấm vải bạt lớn màu xanh da trời, uống bí tỉ bia rẻ tiền. Đến thời điểm ấy của đêm thì chuyện này cứ thế dẫn tới chuyện kia. Mặt đỏ, giọng lên cao, cốc rượu đổ. Chúng tôi tới trễ, các chú xê dịch để lấy chỗ cho ba.

“Thành! Đù má mầy! Sao lâu dzậy – sợ hả? Ngồi xuống, ngồi xuống…”

“Đưa nó năm chai.” Người nói quay sang ba hung dữ. “Dễ với mầy đó, chứ ai ở đây cũng uống tám chín chai rồi.”

Lần đầu tiên ba cho tôi ở lại. Tôi ngồi ở mép vòng tròn, quan sát như bị thôi miên. Một rừng giọng Việt Nam chửi thề, chúc tụng, kêu than về con cái, trêu chọc một chú nói lắp, “Nó có năm-năm-năm trăm sức ngựa.” Trong suốt lúc đó ba chỉ cười hiền lành, mặt ông đỏ lên vì bia nhìn như bị cháy nắng. Bát đũa trên tay, ông trông có vẻ trẻ thơ bên cạnh hai người đàn ông đang buôn chuyện chiến tranh. Tôi quan sát ông thỉnh thoảng đụng đũa vào mâm thức ăn ê hề ở giữa vòng tròn. Thức ăn là đồ nhậu. Hàu béo bự chấm muối tiêu chanh. Ốc biển luộc to cỡ quả bóng bi da. Gỏi gà xé miền Nam trộn dấm ăn với bánh phồng tôm chiên. Ai đó gọi tên ba, ông đã buông đũa xuống và đang nói trầm trầm:

“Trời đất, xe tăng tới trước rồi tên lửa và M60. Mầy nhớ tiếng nó không? Điếc tai luôn. Tụi tao đang trốn trong hầm dưới chùa, má, bốn chị tao và bà Trần bán bánh cùng một số người nữa. Hổng nghe thấy gì hết trơn. Rùi tiếng súng ngưng, bà Trần nói với má phải lên phố thôi. Nếu ở lại đây tụi Mỹ nó sẽ nghĩ mình là Việt Cộng. ‘Tao không đi đâu hết,’ má tao nói. ‘Tụi nó có lựu đạn đó,’ bà Trần nói. Tao vừa sợ vừa thích. Tao chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ.”

Mất một lúc tôi mới liên hệ được ba tôi với câu chuyện ông đang kể. Ông bắt được cái nhìn của tôi và giữ lấy nó trong một khắc, như đang chia sẻ một bí mật với tôi. Ông đang say.

“Vậy là tụi tao lên mặt đất. Đâu đâu cũng thấy bụi với khói, chỉ nghe thấy tiếng trực thăng và M16. Nhà nhà cháy. Rồi qua làn khói tao nhìn thấy một người Mỹ. Tao suýt cười. Hắn mặc quân phục lôi thôi lắm – quá rộng với hắn – hắn mang một cái vòng cổ bện và đội mũ bóng chày. Hắn vác khẩu M16 trên vai như vác thuổng. Trời đất, hắn coi không giống Việt Cộng chút nào, họ mặc sơ mi cài nút tới cằm – lại còn sơ vin nữa, ngay cả khi bò dưới địa đạo đầy bùn suốt ngày.”

Ông cầm đũa lên xắn tiết canh – một món đặc sản – thịt băm ngâm trong máu vịt đông. Một số người khác đang lắng nghe, mỉm cười hiểu biết. Tôi nhìn răng ông nhuốm đỏ khi ông vừa nhai vừa nói nốt:

“Tụi nó bắt tụi tao đi đến phía đông của làng. Tụi nó có khoảng mười người, tụi tao thì năm mươi người. Bà Trần cứ nói, ‘Không phải VC, không phải VC.’ Tụi nó không nghe thấy bả vì ồn kinh khủng, toàn nghe tiếng súng tự động và máy xả lựu đạn M79, nhớ mấy thứ đó không? Chỉ có tao nghe thấy bả. Tao thấy mảnh xác thú vật rải khắp cánh đồng, một con trâu bị mất cả cái be sườn, như bị muỗng xúc đi vậy đó. Rùi qua làn khói tao thấy ông Long cúi lạy một thằng lính Mỹ, tao muốn kêu ổng lại. Vợ, con gái và hai đứa cháu gái ổng, Mỹ và Kim, đứng sau ổng sợ hết hồn. Thằng Mỹ bước lên, lấy báng súng gõ đầu ổng rồi quay súng lại bắn thẳng vào họng ổng. Không ai nói chi hết. Má ráng che mắt tao nhưng tao vẫn nhìn thấy hắn chuyển cò súng từ chế độ tự động sang bắn tỉa rùi bắn bà Long. Rùi hắn và một thằng bạn kéo đứa con gái ổng vào bụi, kéo theo luôn hai đứa con gái đang bám vào chân má tụi nó.

“Chúng bắt tụi tao dừng lại ở cái cống gần cầu. Xác người rải trên đường, một đứa nhỏ mới sanh chỉ còn nửa đầu dưới, một nhà sư áo cà sa nhuốm hồng. Tao thấy hai cái xác người có hình con át bích khắc vào ngực. Tao không hiểu chi hết. Các chị tao thậm chí còn không khóc. Mọi người giờ đang gào lên, ‘Không phải VC không phải VC,’ nhưng tụi Mỹ chỉ nhăn mặt, nhổ nước miếng và cười. Một thằng nói gì đó rồi mấy thằng khác bắt đầu đẩy tụi tao xuống cống. Cái cống ngập nước bùn tới nửa. Má nhảy xuống rồi nhấc các chị tao xuống từng người một. Tao nhớ tao ngước nhìn lên thấy trực thăng đầy trời, cái to cái nhỏ, cái cao cái thấp. Chúng bắt tụi tao quỳ trong nước. Chúng dựng súng lên chạc. Rồi chúng bắt tụi tao đứng lên lần nữa. Một trong số chúng, một thằng nhỏ với cái mặt bự, vừa nhồi đạn vào ổ vừa khóc lóc rên rỉ. ‘Không phải VC, không phải VC.’ Chúng không nhìn tụi tao. Chúng bắt tụi tao quay lưng lại. Chúng bắt tụi tao quỳ lại xuống nước. Rồi chúng bắt đầu bắn, tao cảm thấy người má giật trên người tao, giật thiệt lâu, và rồi xung quanh tiếng trực thăng kêu mỗi lúc một lớn hơn như sắp sửa hạ cánh hết xuống, rồi thì tất cả đều tối tăm ẩm ướt ấm áp và ngọt ngào.”

Cả vòng người lặng hẳn. Má từ bếp ra, ngồi xổm cạnh ba, vòng tay quàng cổ ba. Đây là một hành vi phạm luật nhỏ. “Trời đất,” má nói, “các ông hổng còn gì hay hơn để nói sao?”

Sau một khắc yên lặng, ai đó khịt mũi và nói thiệt to, “Thành, mầy thắng rồi đó. Mày khổ thiệt!” và rồi tất cả mọi người, kể cả ba cũng phá lên cười. Tôi cũng cười theo mà không rõ tại sao. Mọi người cụng ly và chúc tụng bằng những từ tôi không hiểu.

Có thể ba không kể câu chuyện ấy chính xác như vậy. Có thể tôi đang điền vào những quãng trống. Nhưng khi viết một bài ngợi ca, người ta không phải thề sẽ chỉ nói sự thật, mà câu chuyện này cũng rất gần với sự thật. Ba tôi lớn lên ở tỉnh Quảng Ngãi, làng Sơn Mỹ, thôn Tư Cung mà sau này người Mỹ biết đến với cái tên Mỹ Lai. Lúc đó ông mười bốn tuổi.

KHUYA ĐÊM ĐÓ, tôi cắm điện vào chiếc Smith Corona. Nó ngâm nga đầy hứa hẹn. Tôi tóm lấy chai Scotch dưới bàn ra rót một cốc đúp. Má nó, tôi nghĩ. Tôi chỉ có hai ngày rưỡi nữa thôi. Tôi sẽ viết câu chuyện dân tộc về người cha Việt Nam của mình. Đó là một câu chuyện hay. Một câu chuyện tuyệt bỏ xừ.

Tôi cho giấy trắng vào máy. Ở dòng đầu, tôi đánh “TRUYỆN DÂN TỘC” bằng chữ hoa. Tôi đẩy cần chữ và cuộn xuống dòng tiếp theo. Có tiếng trực thăng trên bầu trời đêm. Các phím gõ vào trang giấy.

HÔM SAU TÔI DẬY MUỘN. Tôi ngồi trong quán cà phê với các trang giấy đánh máy, ngắm nhìn khách đến và đi. Họ cười, ngồi, nhấm nháp và nói chuyện, nghe họ nói tôi lại được nhắc nhở một lần nữa rằng mình đang ở trong một thị trấn nhỏ tại một đất nước xa lạ.

Tôi nghĩ tới ba đang nằm trong phòng ngủ nhá nhem. Khi tôi đi, cửa phòng đóng kín. Tôi nhớ tới hình ảnh ông khi tôi vào phòng xem ông ra sao trước khi đi ngủ: thân hình ông bị chăn nuốt chửng và đầu ông thật nhỏ giữa đống gối. Ông đã già đi trong ba năm qua. Da ông trong như thủy tinh dưới ánh bình minh xanh da trời. Ông đang ở đây, bây giờ, với tôi, điều đó làm phần còn lại của đời tôi tưởng như vô thực.

Tôi đọc lại những gì đã viết: nghĩ tới ông vào tuổi đó, vẫn là một cậu nhỏ, và về con người ông đã trở thành bây giờ. Tại bàn bên cạnh, cậu thanh niên giơ ra một cái tai nghe iPod, gọi bạn gái sang ngồi cạnh mình. Cửa mở và một làn gió lạnh ùa vào. Tôi cố gắng tập trung.

“Chào!” Đó là Linda, em mặc cái áo khoác đi bộ màu da cam rộng và mang theo mình làn hương tươi mát khỏe khoắn của tất cả những nơi em vừa tới. Mặt em đang dập đi một nụ cười. “Anh làm gì ở đây?”

“Đang sửa truyện của anh.”

“Ba anh cũng ở đây à?”

“Không.”

Các bạn em đang đợi ở quầy. Em gật đầu với họ, giơ lên một ngón tay rồi đi vòng qua sau lưng tôi, đặt hai tay lên vai tôi. “Truyện đây à anh?’ Em cúi qua người tôi, tóc em mơn man trên mặt tôi, lạnh và mềm như lụa trên hai má tôi. Em cầm lên đọc thầm một vài trang. “Em không hiểu,” em nói, đặt mấy tờ giấy lại trên bàn, “Anh đang làm gì vậy?”

“Em nói vậy ý gì?”

“Anh chưa kể những chuyện này với em bao giờ.”

Tôi nhún vai.

“Ba anh kể những chuyện này với anh à? Giờ ông nói chuyện lại với anh rồi?”

“Không hẳn thế,” tôi nói.

“Không hẳn thế?”

Tôi quay lại để nhìn thẳng vào mặt em. Đôi mắt em không hề phản chiếu ánh sáng.

“Anh biết em nghĩ gì không?” Em nhìn lại vào mấy trang giấy. “Em nghĩ anh đang biện hộ cho ba anh.”

“Biện hộ?”

“Anh đang lãng mạn hóa quá khứ của ông,” em hạ giọng nói tiếp, “để giải thích những gì anh nói ông đã làm với anh.”

“Đây chỉ là một câu chuyện thôi,” tôi nói. “Anh nói ông làm gì anh?”

“Anh nói ông hành hạ anh.”

Quá nặng nề, những từ này và những việc liên quan đến chúng. Tôi nhìn vào gương mặt nghiêm nghị, xinh đẹp, đôi mắt bẫy ánh sáng của em và chợt cảm thấy chúng đang buộc tội tôi. “Anh chưa bao giờ nói vậy.”

Em lùi lại nửa bước. “Nói cho em nghe,” em nói, giọng dịu lại. “Anh chưa bao giờ giới thiệu ông với người bạn gái cũ nào của anh, đúng không?” Câu hỏi căng trên mặt em.

Tôi không nói gì và sau một lúc em gật đầu, cắn một khóe môi trên. Tôi biết cử chỉ ấy. Dù biết rằng tôi phải đứng dậy, kéo thân hình khoác áo màu da cam của em về phía mình, thì thầm vào tai em, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là nghĩ về ba và những lý do của ông. Những xác người tơi tả trên người ông. Mười tiếng đồng hồ ông đã chờ đợi, bùn tràn dần vào phổi, cho tới khi đêm xuống. Tôi cảm thấy mình quay lại với các thói quen cũ.

Em bước tới và hôn đỉnh đầu tôi. Đó là một trong các nguyên tắc của em: không rời khỏi một cuộc tranh cãi mà không biểu lộ một vài dấu hiệu âu yếm. Tôi không nhìn em. Má tôi thích kể câu chuyện khi gia đình chúng tôi mới tới Úc, chúng tôi sống trong một nhà trọ trên một phố ở một quận ngoại ô xa mà người trên phố – bất cứ khi nào họ gặp gỡ hay chia tay – đều ôm hôn nhau nồng nhiệt. Ba tôi – vừa bối rối, vừa bị mê hoặc bởi điều đó – đã đặt tên phố là “phố của những người tình.”

Tôi quay về phía cửa sổ: trời đã tối, đêm lắng xuống dày đặc và sâu thẳm. Một người đàn ông và một người phụ nữ ngồi đối diện qua một cái bàn cao. Người phụ nữ cúi về phía trước, mỉm cười, đôi nhũ hoa tựa vào mặt bàn gỗ, khuỷu tay ngả về phía trước, bàn tay cô chỉ cách ngực áo của người đàn ông vài phân. Răng cô sáng lấp lánh trong suốt cuộc chuyện trò. Phía sau họ, một người mẹ ngồi với đứa con trai. “Mẹ không chơi đâu,” bà lẩm bẩm, lật nhanh các trang tạp chí.

“Chữ L,” cậu bé nói.

“Mẹ đã bảo không chơi mà.”

ĐÂY LÀ ĐIỀU TÔI TIN: Chúng ta tha thứ cho mọi hy sinh của bố mẹ miễn là sự hy sinh đó không mang tên chúng ta. Với ba tôi, không còn một tên nào khác – chỉ có tên tôi, và ba đặt tên tôi theo tên quê hương ông đã từ bỏ. Sự hy sinh của ông là trọn vẹn và thúc đẩy ông làm mọi điều ông đã làm. Tôi không xứng đáng với tất cả những điều đó.

Mười sáu tuổi, tôi bỏ nhà đi. Có một cô gái, thuốc kích thích, và khả năng mất mát lớn hơn tôi tưởng tượng. Cô là hiện thân của tất cả những gì ba tôi ngăn cấm và hiển nhiên là xứng đáng. Tất nhiên ba đã đúng về cô: cô dạy tôi nỗi đau – nhưng cả sự hứa hẹn. Chúng tôi như hai con vật trong bóng tối, tấn công lẫn nhau và kể từ hồi đó tôi chưa bao giờ có lại được cảm giác ấy – cảm giác hiến dâng. Khi ba phát hiện má đưa tiền cho tôi sống, ông bắt bà lựa chọn giữa ông và tôi. Bà chuyển vào sống trong một xưởng may của một người bạn của gia đình, học cách sử dụng máy vắt sổ và tiếp tục gửi tiền cho tôi.

“Tất nhiên má muốn sống với ba,” má nói với tôi khi tôi tới thăm bà, hàng tháng sau đó. “Nhưng má muốn con về nhà nữa.”

“Ba không muốn vậy.”

“Con là con trai ổng,” má nói đơn giản. “Ổng muốn con ở bên.”

Tôi giặt ủi đồng phục, nhờ một người bạn cắt tóc giùm và đợi đến giờ tan trường mới bắt tàu về nhà. Ba tôi lui vào trong khi tôi tới. Khi trở lại phòng khách, ông đã thay áo và trên tóc ông có nước. Tôi cảm thấy nôn nao và bừng tỉnh – tưởng như tất cả mấy tháng trước là một giấc ngủ và giờ đây mặt tôi lại ướt nước, lạnh buốt xương. Căn phòng mang hương bạc hà. Ông hỏi tôi có mạnh không và tôi nói tôi mạnh, rồi ông hỏi cô bạn gái tôi có mạnh không và lúc đó tôi nhận ra ông đang nói chuyện với tôi không phải như một người cha nói chuyện với đứa con trai duy nhất mà như ông đang nói với một người bạn, với bất kỳ ai, điều đó làm tôi tan nát. Tôi đã biết cảm giác máu mình tụt xuống là như thế nào nhưng nó không là gì so với bây giờ. Tôi buộc mình phải nhìn ông và tôi xin ông đưa má về nhà.

“Còn con?”

“Con sẽ không nhận tiền của má nữa.”

“Con về nhà đi,” cuối cùng ông nói. Giọng ông như bị xiết lại, nửa phần nghẹn ngào.

Ngay hồi đó, các cảm xúc của tôi đã hoạt động như một hệ thống đòn bẩy và ròng rọc; chỉ cần nhìn ông là nó đi vào chuyển động vô phương đảo ngược. “Không,” tôi nói. Câu trả lời bắn ra từ tôi.

“Con về nhà rồi má sẽ về nhà, và ba hứa với con sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.” Ông nhìn ra chỗ khác, cười nặng nề và lấy khăn tay ra. Trán ông ẩm mồ hôi. Ông đã bị chôn sống trong cái ghì siết nóng ẩm của gia đình mình, bị nghiền nát bởi cuộc sống của những người thân. Tôi muốn biết ông đã leo ra khỏi cái hố đó như thế nào. Tôi muốn biết liệu tôi và ông có bao giờ tìm được sự tương hợp nữa hay không. Tôi muốn biết tất cả những điều đó nhưng một mô men nội tại đang chuyển dịch tôi ngày một xa ông hơn.

“Thế giới tàn nhẫn lắm,” ông nói. Trong một khắc tôi không rõ có phải ông đang dùng tục ngữ hay không. Ông nhìn tôi, gương mặt ông như tấm mặt nạ phản chiếu ánh sáng yếu ớt. “Con nói dạ đi rồi chúng ta có thể quên mọi thứ. Vậy thôi. Chỉ cần nói dạ.”

Nhưng tôi đã không nói. Không nói vào ngày hôm đó, ngày tiếp theo hay bất cứ ngày nào trong gần một năm sau. Tuy vậy khi tôi cuối cùng nói ra từ ấy, sau khi đã cai nghiện và cải tạo cách ly, ông đã giữ lời và không bao giờ nói về vấn đề đó nữa. Thực tế, sau khi tôi trở về nhà, ông không bao giờ nói nhiều về bất kỳ điều gì nữa và dưới sự im lặng mới học được này, cả ba chúng tôi – ba, má và tôi, cùng chung sống lần nữa dưới một mái nhà – đã bị dẫn dụ một cách khôn cưỡng theo cuộc đời riêng biệt của mỗi người.

CĂN HỘ có mùi tỏi xào và dầu mè khi tôi về. Ba đang ngồi trên sàn phòng khách, trên một cái đệm đặc biệt ông mang theo. Nó làm bằng xốp trắng. Ba bảo tôi nó có lợi cho lưng của ông. “Có đồ xào trong bếp đó con.”

“Cảm ơn ba.”

“Hồi sáng ba đọc truyện của con,” ông nói “khi con còn đang ngủ.” Có cái gì đó cuộn lên trong dạ dày tôi. Tôi quên mất không giấu bản thảo đi. “Có nhiều lỗi trong đó.”

“Ba đọc rồi à?”

“Truyện sau cùng của con cũng có lỗi nữa.”

Truyện sau cùng của tôi. Tôi nhớ má gọi điện cho tôi hồi đó: ba tôi, thất nghiệp và sống một mình ở Sydney, đã bắt đầu gửi email dài cho bạn bè xưa của ông – bạn từ ba mươi, bốn mươi năm về trước. Tôi nên nói chuyện với ông nhiều hơn, má nói vậy. Tôi đã gửi cho ông câu chuyện tôi viết về người tị nạn. Ông không phản hồi gì. Giờ đây, khi bước ra khỏi bếp với một đĩa đồ xào đầy có ngọn, tôi cố nhớ lại những phần mình đã không nghiên cứu kỹ trước khi viết. Có thể là cảnh ở Rạch Giá – trước khi họ lên thuyền. Tôi xúc đầy một muỗng tàu hũ tẩm, hạt điều và đậu răng ngựa. Ông đã đi chợ. “Chỉ là truyện thôi ba,” tôi nói, nhai bình thản. “Truyện tưởng tượng.”

Ông ngừng lại một chút, rồi nói, “Được thôi con.”

Chế độ ăn của tôi từ lâu rồi chỉ có khoai tây chiên, mì và pizza nên tôi đã quên mất mình nhớ thức ăn nhà nấu đến thế nào. Lúc tôi ăn, ông làm vài động tác vươn người trên cái đệm trắng.

“Lưng ba sao rồi ba?”

“Ba có chụp CT rồi,” ông nói. “‘Nước tủy sống rò ra giữa các đốt sống lưng ba.” Ông cười nụ cười của người đã chịu đựng lâu ngày, chân phải gấp qua hông trái. “Ba mang phim cho con coi đó.”

“Có đau không ba?”

“Đau.” Ông cười ngắn, làm như cả chuyện này là một chuyện đùa. “Nhưng ba làm chi được? Chỉ có thể chấp nhận thôi.”

“Họ không mổ được sao?”

Tôi cảm thấy mình không quan tâm nữa. Tôi là một đứa con tồi. Ba ly thân má khi tôi bắt đầu vào trường luật và từ lúc đó ông nhắc đến cái lưng đau của mình – luôn luôn diễn tả bằng giáo lý đạo Phật về chịu đựng và chấp nhận – nhiều đến nỗi phần lạnh lùng chai đá trong tôi ngờ rằng ông đang phóng đại, để nài xin và rồi khẽ khiển trách sự quan tâm của tôi. Ông từng làm vậy. Ông đã bắt tôi phải học karate tới khi tôi mười sáu tuổi; và sau đó, trong một trong các cuộc tranh cãi cuối cùng của chúng tôi, ông lao tới tôi và tôi thấy mình thủ thế tấn công. Ông đã cười vào sự khiếp đảm của tôi. “Thế là đúng,” ông đã nói. Hai cha con tôi bị cầm tù trong mọi cảm giác mang tội lỗi đầy phức tạp. Chúng tôi đã mất tất cả thời gian mình có mới nhận ra rằng khi phải đương đầu với vấn đề gì, chúng tôi cũng luôn đương đầu trên tinh thần vì nhau.

“Con muốn nói chuyện với ba,” tôi nói.

“Khi già thì người nó rã ra,” ông nói.

“Không, ý con là về truyện ngắn con viết.”

“Nói chuyện?”

“Dạ.”

“Về cái chi?” Ông có vẻ thích thú.

“Về các lỗi của con,” tôi nói.

NẾU BẠN HỎI TÔI TẠI SAO TÔI TỚI IOWA, tôi sẽ nói rằng tôi đã từng là luật sư và tôi đã từng không là luật sư. Mỗi hai tư giờ, tôi dậy vào giờ mù sương nhất của buổi sáng và đi – bằng xe buýt, tàu điện, thang máy, không nói một lời, mặc quần áo là cứng đến trầy da, tay cầm một ly trắng đựng cà phê sữa – tới phòng làm việc không cửa sổ của tôi ở tòa nhà cao nhất, phủ nhiều kính nhất Melbourne. Thời gian bị chia thành từng đơn vị 6 phút_(1), bạn bè được xếp vào giờ ăn trưa dài tám đơn vị. Tôi căm ghét việc mình đang làm và tôi căm ghét rằng tôi giỏi việc mình đang làm. Chủ yếu, tôi ghét cái nhận thức rằng ba chỉ tự hào về tôi bởi nghề nghiệp của tôi. Khi tôi nói với ông tôi sẽ bỏ việc và chuyển tới Iowa để làm nhà văn, ông nói, “Trâu buộc ghét trâu ăn.” Nhưng lúc đó ông không kiểm soát được cuộc đời tôi nữa. Tôi đã hai mươi lăm tuổi.

Quan trọng không phải ở chỗ bạn viết điều không ai có thể viết được mà là ở chỗ viết điều chỉ bạn có thể viết được. Gần đây tôi tìm thấy mẩu văn này trong một quyển tập cũ. Người viết điều này hẳn không thể biết được thời gian có thể phản ta như thế nào, một giọng nói rỗng tuếch đi và những từ một thời được yêu mến có thể héo tàn trên trang giấy ra sao.

“Tại sao con muốn viết truyện này?” ba hỏi tôi.

“Đó là một câu chuyện hay.”

“Nhưng có bao nhiêu thứ khác con có thể viết.”

“Cái này quan trọng ba ạ. Quan trọng là sao cho mọi người biết.”

“Con muốn sự thương hại của họ.”

Tôi không biết đây có phải là một câu hỏi không. Tôi tự ái. “Con muốn họ nhớ.”

Ông yên lặng một lúc lâu. Rồi ông nói, “Chỉ có con sẽ nhớ, ba sẽ nhớ thôi. Họ sẽ đọc, vỗ tay rồi quên đi.” Lần này ông không cười. “Đôi khi quên đi là tốt hơn, không phải sao?”

“Con sẽ vẫn viết,” tôi nói. Mọi thứ trở lại với tôi – cảm giác tôi có bên bàn máy chữ đêm trước. Một ý tưởng nhảy lên trong óc tôi. “Nếu con viết một câu chuyện thật,” tôi nói với ba, “con sẽ có cơ hội bán nó tốt hơn.”

Ông nhìn tôi một hồi, tìm kiếm, như thể lần đầu tiên nhìn thấy cái gì đó trên mặt tôi. Cuối cùng, ông nói với giọng kiềm chế, “Ba sẽ kể con nghe.” Trong một khắc ông chìm trong suy nghĩ. “Nhưng tin ba đi, đó không phải là thứ con có thể viết được đâu.”

“Con sẽ vẫn viết,” tôi nhắc lại.

Rồi ông làm một điều tôi không ngờ. Gương mặt ông dãn ra, ông phá lên cười – không hề mang vẻ thương thân hay ý tứ, – cười hết cả hơi. Tôi vô cùng kinh ngạc. Tôi không nhớ được lần cuối cùng tôi nghe ông cười như vậy là khi nào. Tôi cũng cười theo mà không rõ tại sao. Cổ họng ông ngâm nga tiếng Việt. “Được… được… được,” mắt ông cười sáng ánh. “Được, được, mai.”

“Nhưng…”

“Ba cần nghĩ đã chớ,” ông lắc đầu rồi lẩm bẩm. “Con tui là nhà văn. Có thực mới vực được đạo.”

“Một người làm quan cả họ được nhờ,” tôi đối lại. Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi lại phá lên cười, gật đầu lia lịa. Tôi đã để dành câu đó từ nhiều năm nay.

BUỔI CHIỀU. Hai ba con tôi ngồi đối diện nhau qua bàn ăn: tôi hỏi và ghi lại câu trả lời trên tập giấy vàng dùng để ghi chép; ông nói. Ông nói về tuổi thơ và gia đình ông. Ông nói về Mỹ Lai. Tới đó ông dừng lại.

“Con không mời ba à?”

“Mời gì ạ?”

“Trời đất, con nghĩ con có thể giấu được rượu chất lượng tốt sao?”

Ánh sáng buổi chiều chiếu qua cửa sổ và giữ khung người ông trong một hình vuông ánh bạc, rồi từ từ tụt xuống chân ông, mờ dần trong khi ông nói. Tôi rót đầy rượu vào hai ly đã cạn. Ông nói át tiếng giao thông giờ cao điểm trên đường, nói khi tiếng ồn ấy đã ngớt đi; ông nói mãi tới tận chiều muộn. Khi điện thoại kêu lần thứ hai tôi giật dây cắm ra khỏi ổ. Ông kể với tôi ông đã bị Việt Nam Cộng Hòa bắt đi lính như thế nào.

“Sau những gì bọn Mỹ đã làm ư? Sao ba có thể chiến đấu cho chúng được?”

“Trong ba không còn gì ngoài sự căm thù,” ông nói, “nhưng ba đã ớn tất cả mọi người lắm rồi.” Ông dừng lại sau từ “căm thù” như một người cha lần đầu tiên nói từ đó trước đứa con thơ dại, thử kiến thức của đứa trẻ, kiểm tra xem cái gì là nội hàm của từ còn cái gì là nghiệm được về sau.

Ông nói với tôi về cuộc chiến. Ông kể về chuyện gặp gỡ má. Đám cưới. Rồi năm 1975. Ông kể với tôi về thời gian ông ở trại cải tạo, sự thiếu đói. Công việc lao động hàng ngày phá hủy lưng của ông. Ông kể về chuồng cọp và hộp vận chuyển, những cái tên khác nhau của các loại hình tra tấn khác nhau: hông da, máy bay, ô tô. “Chúng trói người bằng cách buộc ngón tay cái họ lại, một cánh tay vòng qua vai, tay kia bị kéo về trước người. Hoặc chúng kéo dạng hai chân ra và trói ngón tay trỏ vào ngón chân cái…”

Ông biểu diễn cho tôi xem. Một ông già da bọc xương trong động tác yoga, trông ông có vẻ hơi lố bịch. Khi đang biểu diễn thế hông da ông lưỡng lự, rồi, một nụ cười nở trên mặt, ông yêu cầu tôi giúp ông ngồi lên tấm đệm xốp. Tôi sốt ruột đợi ông trải tấm đệm ra. Ông kêu tôi giúp một lần nữa. Đó, đẩy chỗ đó. Mạnh hơn tí. Rồi ông tiếp tục nói, đôi khi với trọng trầm trầm, đôi khi cười toe toét. Những lúc khác ông chớp mắt – giận dữ, bối rối. Mặc những lời tuyên bố đầy tinh thần nhà Phật của ông, tôi tưởng tượng ra hình ảnh ông bị cầm tù trong giận dữ, hằng ngày buộc phải quay ngược lại chứng kiến những hành động man rợ của quá khứ, không thể kháng cự được. Nhưng đó chỉ là tưởng tượng của tôi. Tôi không có gì để chứng minh rằng giờ đây ông chưa rũ bỏ được hết những điều đó.

Ông kể với tôi, ông đã tổ chức cho gia đình di tản khỏi Việt Nam sau ba năm bị giam cầm. Đó là năm 1979. Lúc đó ông hai mươi lăm tuổi, và đã là cha của tôi.

Khi cuối cùng ông thiếp đi, gương mặt ấm lên vì rượu Scotch, tôi quan sát ông từ ngưỡng cửa phòng ngủ. Tôi đã say. Trong một lúc, nhìn ông, tôi lại cảm thấy tôi đang mơ. Trong một khắc tôi trở thành ba tôi, ngắm đứa con trai đang ngủ, nhớ lại những gì mà – vì con – ông đã không ngừng cố gắng để quên đi. Một quá khứ rộng lớn hơn sự oán than, hiểm nguy hơn ký ức. Tôi lắc người để làm mình tỉnh lại và đi tới bàn. Tôi đọc hết một mạch, cẩn thận, các ghi chép dài bốn mươi lăm trang. Tôi đọc lại bản thảo câu chuyện hai đêm trước. Rồi tôi để cả hai xuống một bên và bắt đầu đánh máy, không xem lại lần nào nữa.

Bình minh đến chậm rãi tới mức tôi không nhận thấy – cho tới khi xe rác kêu bíp bíp – là không khí bên ngoài có màu xanh da trời ánh kim và mặt đất toàn màu trắng. Mái của cái lán thiếc cũng trắng. Đợt tuyết đầu tiên đã rơi.

ÔNG KHÔNG CÓ TRONG CĂN HỘ khi tôi thức giấc. Một mảnh giấy để trên bàn nước: Ba đi dạo. Ba mang theo truyện của con để đọc. Tôi ngồi ở ngoài trên bậc thang thoát hỏa với một cốc Scotch, đợi ông. Bất chấp cái lạnh, tôi uống whisky, để cho nó chảy như một dòng chảy ấm qua khắp người. Tôi mới chỉ ngủ có ba tiếng và quá mệt mỏi không thể cảm nhận bất cứ điều gì ngoài sự thanh thản. Băng đóng trên cây phong lữ đỏ ở đầu cầu thang lên tòa nhà bên cạnh. Tôi dò nhìn qua cửa sổ hàng xóm mà không nhìn thấy gì cả.

Ông sẽ đọc câu chuyện ấy với vốn tiếng Anh học được trong sách của mình và sẽ nhìn nhận bản thân theo một cách mới. Ông sẽ nhận ra tôi. Ông sẽ thấy kinh nghiệm của ông mới đầy sức mạnh làm sao, thống khổ của ông có giá trị thế nào – tôi đã làm cho thống khổ ấy cất tiếng nói nhiều hơn chính bản thân nó như thế nào. Ông sẽ hài lòng với tôi.

Tôi uống hết cốc Scotch. Đã là mười một giờ rưỡi, bầu trời tối, điểm những mảng xám. Tôi phải nộp truyện vào mười hai giờ. Tôi đeo găng tay, cẩn thận bước xuống thang thoát hỏa và gỡ xe đạp khỏi giá. Ông sẽ hài lòng với tôi. Tôi đạp xe quanh khu nhà, đi lên đi xuống phố Summit, cố nhìn ra cái áo bông phồng của mình. Các phố vắng tanh. Tuyết hầu như đã tan hết nhưng có một lớp băng mỏng phủ trên mặt đường nên tôi đạp chầm chậm. Mắt cay và hơi thở mù khói trước miệng, tôi đi xuống trung tâm thành phố, qua công viên College Green, cỏ đóng băng cứng đến mức vỡ ra dưới bánh xe. Ánh đèn sáng yếu ớt từ sau cửa sổ kín rèm của các ngôi nhà. Trên phố Washington, một làn gió đột ngột quất các cành du, giật lá khỏi cành, thổi lá bay lơ lửng xuống đất dày đặc, chậm rãi và câm lặng.

Tôi đi qua nửa cầu thì nhìn thấy ông. Tôi dừng lại. Ông đang ở bên bờ sông. Tôi không nhìn thấy rõ mặt nhưng đó là ông, thấp và đầu bé trong cái áo khoác phùng phình của tôi. Ông đứng với người đàn ông lang thang, cả hai nhìn chăm chăm vào cái thùng phi rực lửa. Khói bốc lên dày, kết tủa. Trong một giây tôi ngừng thở. Tôi biết với sự chắc chắn đến nôn nao rằng ông đã làm gì. Đám tro tàn, gửi mình cho làn gió, bay từ tôi xuống sông. Ông vỗ vỗ vai người đàn ông, thọc tay vào túi rồi nhét một ít tiền vào đôi bàn tay to đeo găng tay mới ấy. Ông bắt đầu đi ngược lên bờ sông và nhìn thấy tôi. Trong tôi tràn ngập nỗi khao khát đến mức tôi nghĩ tim mình sẽ lụt. Tay ông trống trơn.

Nếu như tôi biết điều sau này tôi sẽ biết, hẳn tôi đã không nói ra những điều tôi đã nói. Hẳn tôi đã không nói với ông rằng ông không hiểu – vì rõ ràng, ông có hiểu. Hẳn tôi đã không nói rằng điều ông làm là không thể tha thứ được. Rằng tôi ước gì ông chưa bao giờ đến hay rằng ông không phải là cha tôi. Nhưng tôi đã không biết, và trong lúc tôi đứng chờ, cảm nhận gió đổi chiều, tất cả những gì tôi thấy là một người đàn ông đang đi đến chỗ tôi trong cái áo khoác rộng đến nực cười, xoa hai bàn tay đầy bồ hóng vào nhau, bước qua màn khói đầy đốm và cuộn tàn lửa, người đã hủy hoại bản thân mình, một lần nữa, nhân danh tôi. Dòng sông ở phía sau ông. Gió thổi gắt. Trong đám đốm sáng bay lơ lửng chậm rãi, tôi quay đi nhìn xuống sông. Sắp sửa đóng băng, dòng sông sáng lên yếu ớt ở những mảng phồng rộp lớn. Làn nước ở những chỗ vẫn còn chảy đen và lăn tăn. Và tôi chợt nhận ra rằng bề mặt một dòng sông phải mất nhiều giờ, đôi khi nhiều ngày để đóng băng hoàn toàn – giữ dưới da nó một thế giới pha lê hoàn hảo – và thế giới đó có thể vỡ tan bởi một viên đá nhỏ rơi xuống như một đơn âm.

SÁCH PHÁT HÀNH TẠI: WWW.GIADINHBOOK.COM.VN
Gọi điện: 0904214990 để được trả giá cho sách – dành cho khách mua số lượng nhiều

Categories: Uncategorized

NHÂM NHI TRIẾT – MỘT TỦ SÁCH TRIẾT ĐẦY Ý NGHĨA

Bộ sách Nhâm nhi Triết Do Công ty sách Gia Định – giadinhbook.com.vn sắp ra mắt bạn đọc sẽ hứa hẹn một phương pháp tư duy mới không chỉ với trẻ nhỏ mà còn ở tất cả các đối tượng bạn đọc từ 8+ cho đến các bạn đọc lớn như Cha mẹ, ông bà…Một trải nghiệm thực tế trong hoàn thiện các kỹ năng của bản thân, chiêm nghiệm cũng như phát triển và giáo dục bản thân, con cái…một thế hệ tương lai cần rất nhiều những kỹ năng trong cuộc sống.
Bộ sách giúp chúng ta thảo luận, tranh luận theo hướng tích cực để sau mỗi chủ đề mỗi người đúc rút một điều bổ ích cho bản thân để sống có ý nghĩa hơn và trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội

Trích đoạn một số truyện:
Cuốn 1: Lãnh đạo và những người khác

” TỚ, SAU NÀY, TỚ MUỐN LÀM SẾP!”
Julien 5 tuổi. Mỗi khi ai đó hỏi em nghề nghiệp của bố em, em luôn trả lời rằng bố em là “sếp”. “Bố em ông ấy là sếp trong lĩnh vực gì?”, các anh chị lớn ở trường hỏi em. “Bố em là sếp, ngắn gọn thế thôi”, Julien trả lời. Và khi mọi người hỏi em muốn làm gì sau này, Julien luôn trả lời rằng: “Khi cháu lớn, cháu muốn làm sếp.”

Nhưng mà sếp gì, điều đó em lại không biết và không xác định được. Với em, quan trọng là làm sếp, đó là điểm trọng yếu, thế thôi.
Thực ra, điều Julien muốn nói là sau này khi em lớn, em muốn lãnh đạo người khác.
Thực ra, điều Julien muốn nói là sau này khi em lớn lên em muốn chỉ huy người khác. Em muốn có quyền lực, muốn ra lệnh và bắt người khác phải vâng lời.
Ta thông cảm với một trẻ nhỏ ước mơ làm lãnh đạo. Bởi vì, lúc còn nhỏ, ta có cảm giác phải sống vâng lời theo người khác, có cảm giác tất cả những người khác như: bố mẹ, thày cô giáo, các anh, các chị…đều là người điều khiển mình. Julien thích tự quyết định việc ăn gì, đi ngủ vào giờ nào, không thổi sáo, xem ti vi khi em muốn, tự ý đi ra ngoài nếu điều cô giáo nói không làm cho cậu hứng thú.
Thông thường, con người luôn muốn trở thành sếp, đơn giản vì họ chán việc nhận lệnh rồi. Vì thế, với tư cách là một người lãnh đạo của chính mình, họ thấy bình thản và thậm chí, họ có thể trả đũa.

Khắp nơi đều có sếp.
Quản đốc phân xưởng, nhạc trưởng, tổng biên tập, tổ trưởng khu phố, cửa hàng trưởng, giám đốc nhà băng, chủ tịch nước, giám đốc xí nghiệp, thuyền trưởng, tư lệnh quân đoàn, chủ tịch đảng chính trị, trưởng họ, lớp trưởng, đội trưởng, quản lý dự án, trưởng nhà ga, bếp trưởng, trưởng ban phục vụ, trưởng phòng cabin, giám đốc trại giam, phó giám đốc, bác sĩ trưởng, trại trưởng, phi đoàn trưởng, đội trưởng đội cứu hỏa, kíp trưởng, giám đốc sản xuất, trưởng xưởng…
Không thể tin được, số lượng những người là sếp! Và thường là, sếp dưới các sếp, và sếp của các sếp lại dưới các sếp và sếp của sếp của sếp còn ở dưới sếp nữa.

“NGỒI XUỐNG!… ĐỨNG LÊN!…NẰM XUỐNG!”
Laura rất thích chơi với chú chó của mình. “Ngồi xuống!”. Chú chó nhỏ đặt đít xuống ngay lập tức và vừa ngước cặp mắt xanh to về phía Laura đợi.
“Đứng lên!”. Trong nháy mắt, chú chó lại đứng thẳng bốn chân.
“Nằm xuống!”, nó nằm dài ra và để cái đầu giữa hai chân trước.
“Đến đây!”. Nó chồm về phía Laura và ngoe nguẩy đuôi. “Nhấc một chân lên!”. Điều Laura thích nhất là nắm bàn chân nhỏ bé trong lòng bàn tay mình.
“Không, chân khác kia!”. Hấp! Chú chó đổi chân liền. Sau đó, Laura ném quả bóng tennis cho chú chó hàng chục lần, và lần nào nó cũng nhặt về cho em. Ngay khi cô huấn luyện viên của nó chơi đủ rồi thì cô sẽ yêu cầu nó đi nằm và nó đi nhanh về ổ mà không tỏ ý phản đối gì.

Thật là vui biết bao khi ra lệnh cho chú chó và thấy nó vâng lời! Thảo nào, những người nuôi chó họ thường nói là thích chó hơn mèo, vì mèo không vâng lời, chúng thường làm việc gì chúng muốn và chúng coi thường tất cả những điều chủ yêu cầu.
Chỉ huy, thống trị, buộc phải vâng lời, là lãnh đạo, điều đó khiến ta rất vui thích.
Khi ta là sếp, ta cảm thấy được tôn trọng, có tầm quan trọng, to tát hơn, và thật dễ chịu. Có thể vì thế mà khắp nơi đều có sếp.
Mình sẽ xỉu mất thôi!

LUÔN LÀ CÔ TA CHỈ HUY!
Không được, dây thun quá cao. Tớ sẽ chỉ cho các cậu cách đặt chúng thế nào, Romance nói. Khi chúng mình tạo thành hình số 8, phải nhảy kiểu một chân ở bên trong và trong khi đó chân kia nhảy bằng gót chân, nếu không cậu sẽ bị loại. Nào, chúng mình bắt đầu từ số 0. Anne là người đầu tiên, sau đó tới lượt tớ !
– Trời ơi! Cậu thật khó chịu, lúc nào cũng chỉ đạo, tớ, tớ không chơi nữa, tớ sẽ đi xem bọn con trai đá bóng, Alice nói.
– Mình cũng thế, Clémence nói, mỗi lần ra chơi đều thế này cả, mình chán ngấy rồi, cậu thì cứ quyết định mọi thứ!
– Đúng, thế tại sao trước hết cậu lại chỉ huy chứ?” Éléonore thắc mắc.
Ngay lúc ấy, Lola và Justine cũng bỏ đi và cuộc chơi dừng lại.

Romance thích làm chỉ huy. Ta có thể nghĩ rằng em muốn trở thành chỉ huy vì em nhận thấy các bạn khác có thể khó khăn trong việc tổ chức chơi, để tránh cãi nhau khi không biết đến lượt ai, để giúp các bạn không biết chơi, để đưa ra kiểu chơi mới. Nhưng không hoàn toàn là vậy.
Điều hối thúc em đứng lên chỉ đạo, chính là niềm vui sướng khi được áp đặt, niềm vui khi cảm thấy mình quan trọng, niềm vui vì có quyền với người khác.
Nhưng đối với các bạn khác, uy quyền này khiến họ thấy nghẹt thở, nó lấy đi hứng thú chơi tiếp.
Sự việc diễn ra như vậy đó, khi người chỉ huy chỉ là lãnh đạo bởi lẽ anh ta thích quyền lực.

CONSTANCE LÀ LỚP TRƯỞNG

Có những người muốn trở thành sếp vì họ thấy vui lòng khi thấy tất cả mọi người chào họ khi họ đi qua, có một tài xế riêng và chiếc ôtô to xù, được đi trên thảm đỏ, có quyền vượt đèn đỏ và lái xe quá tốc độ, có chỗ đẹp nhất đi xem biểu diễn…
Những người đó thích quyền lực và chỉ quyền lực mà thôi. Thật may mắn, cũng lại có những người muốn trở thành sếp vì những lý do khác như: đóng góp những ý tưởng mới, đề xuất dự án, thay đổi những gì không thích hợp.

Constance học lớp 6, và cô muốn thay đổi một số việc để cuộc sống học đường sẽ tốt hơn. Cô vạch ra một danh sách các ý tưởng của mình:
* Đặt các cột bóng rổ trong sân trường
* Cho phép học sinh ngồi cạnh bất kỳ ai mà mình thích.
* Tiết thể dục, chia thành các khu vực và để mỗi học sinh chọn môn thể thao ưa thích.
* Mời bố mẹ đến ăn trưa ở căng tin một lần mỗi tháng.
* Phát hai quyển vở như nhau, một quyển ở nhà, một quyển ở trường và không phải mang cặp sách đi học nữa.
* Mỗi tháng, yêu cầu học sinh trong lớp chấm điểm giáo viên.
* Chơi ở công viên cạnh trường học một tiếng một tuần.
* Tổ chức một bữa tiệc nhỏ ở lớp để chúc mừng sinh nhật.

Cô ấy cố thuyết phục Marlène, Isaure, Victoria, Sophie, Emmanuelle, Estelle, Nicolas, Ludovic, Stanislas, Targuy và Charles rằng những ý tưởng này thật tuyệt vời và cô tự nhủ là nếu cô được bầu làm lớp trưởng thì thật dễ dàng để triển khai các ý tưởng của cô. Bởi vì, thứ hai nào cũng vậy sau khi tan học, lớp trưởng của các lớp có buổi gặp gỡ với giáo viên chủ nhiệm để trao đổi về đời sống học đường
Constance rất có thể trúng chức lớp trưởng. Nhất là cô ấy nhất là tối thứ hai nào cô cũng đi bơi với các bạn, và nhất là cô không thể đến hội ý nữa. Thế mà cô vẫn cứ muốn trở thành lớp trưởng. Tất nhiên là cô thích quyền lực như bao vị sếp khác, tất nhiên là cô sẽ tự hào nếu trúng cử, và cô sẽ nói điều đó với bố mẹ ngay khi về tới nhà.
Nhưng điều thú vị nhất đối với cô, đó là thành công trong việc cải thiện nhiều việc trong trường học, thuyết phục thày hiệu trưởng và thày cô giáo họ chấp thuận đề xuất của cô.
“Trích: Lãnh đạo và những người khác”

*****************
cuốn 2: Tự do và không tự do

Đôi khi tự to bóp nghẹt tự do

Ngay cổng trường học, có ba gã bán thuốc gây nghiện. Paola biết rõ những nguy hiểm của thứ thuốc này, người ta đã nói với cô về điều đó, nhưng cô vẫn cứ muốn thử. Ở tuổi cô, cô có thể ra những quyết định đúng đắn cho mình một cách tự do. Nhưng cô vẫn muốn thử. Một lần, rồi hai lần, sau đó 3 lần mỗi tuần, rồi ngày nào cô cũng dùng và hiện nay nhiều lần mỗi ngày. Bây giờ Paola vẫn đi làm việc.

Tất cả tiền lương của mình cô dùng cho việc mua thuốc nghiện của cô; hầu như chẳng còn gì để ăn, cô rất gầy còm, lúc nào cũng ốm đau và vì không có tiền trả tiền thuê nhà, cô chẳng biết đến đâu để ở và cô sẽ mất việc.

Lần đầu tiên, Paola dùng thuốc gây nghiện một cách tự do. Đó là một lựa chọn thực sự, vì cô cũng có thể quyết định không dùng thuốc và cô hiểu mọi nguy hiểm của nó. Cô đã tự do lựa chọn. Nhưng chỉ lựa chọn tự do thực sự một lần duy nhất thôi, vì thuốc gây nghiện tác động lên cơ thể, não bộ và tinh thần, Paola càng hút thì khả năng dừng thuốc của cô càng ít. Thuốc gây nghiện gậm dần sự tự do của cô. Sự tự do lần đầu tiên cô có, ở ngay cổng trường, giảm đi không ngừng. Khi những vấn đề

tiền bạc và sức khỏe xuất hiện thì tự do đã trở nên quá eo hẹp để cô có thể tự phục vụ và tự do quyết định dừng lại.
Paola không thể nói là cô nghiện một cách tự do. Cô không thể nói rằng cô có tự do một khi cô không tự mình dừng lại.
Một số quyết định có thể giảm bớt tự do tương lai của ta, đôi khi lại bóp nghẹt tự do đó.

Tư do dùng để làm gì?

Olivier thích nuôi một con chó. Ba mẹ em đồng ý cho em nuôi, nhưng ba mẹ nói với em trước rằng nếu ba mẹ mua cho em một con chó, thì chính em sẽ là người phải chăm sóc nó. Em sẽ phải dậy sớm hơn thường lệ 10 phút mỗi sáng để dẫn nó chạy trước khi đi đến trường, vào giờ tan học, lúc 17 giờ, khi về nhà và cũng như buổi chiều trước lúc đi ngủ. Phải tự tắm cho nó, cho nó ăn và uống. Ba mẹ để em tự chọn.

Olivier rất muốn có chó, nhưng mỗi sáng em thích dậy càng muộn càng tốt; sau khi tan học, đúng là bực mình thật, khi phải về qua nhà, nếu như em định đi đá bóng cùng các bạn, và buổi chiều, lúc nào cũng có những chương trình ưa thích trên truyền hình. Olivier do dự.
Cuối cùng, Olivier chọn nuôi chó. Quyết định quan trọng, vì một khi chó đã mua về, thì Olivier không thể về muộn được.
Khi em từ trường về, thật điên đầu lên được! Ngay khi tra chìa khóa vào ổ, em đã nghe tiếng chân cào vào cánh cửa. Đúng vào giây phút đẩy cánh cửa vào, thì chú chỏ nhẩy bổ lên người em, Olivier cùng với chú chó lăn lông lốc trên sàn nhà. Em bực mình vì đi đá bóng muộn. Nhưng không có sự lựa chọn nào khác. Đúng là chú chó đã ỉa vung vãi ra nhà. Buổi sáng, có ít vấn đề hơn, vì chú chó chạy đến liếm vào hai má đánh thức em dậy và cả hai cùng nhau ra ngoài làm vài vòng quanh khu nhà. Nếu trời đổ mưa thì thực sự mệt mỏi. Nhưng vì buộc phải ra ngoài, nên mỗi sáng, em có thể mua được bánh nóng ròn. Những hôm buồn bã, em nói tất cả với chú chó của mình, nhưng còn điều thú vị hơn nữa, đó là vào sáng chủ nhật, khi em dắt chó tới trường tham gia lớp huấn luyện động vật, Olivier đã gặp được một cô bé cực kỳ xinh tên là Aurore. Em hy vọng chó của em và của Aurore sẽ phải mất hàng thế kỷ mới được huấn luyện thành thục…
Olivier hiểu là có những việc chán ngắt, có những việc bắt buộc và không thoải mái phải làm. Nhưng, chỉ nghĩ tới những điều đó, nếu em quyết định giành lấy toàn bộ để giữ lại sự tự do của mình thì em sẽ bỏ lỡ nhiều thứ; niềm vui thích được chơi với chú chó của mình, được chăm bẵm nó, có được một người bạn đường, được mua bánh mỳ vừa ra lò… và được gặp gỡ Aurore.

Ta có thể chối bỏ những điều bắt buộc, gò bó, ta có thể bị ám ảnh bởi tự do, chỉ nghĩ đến việc giữ lấy tự do, thứ có thể nhất của mình. Nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng sự tự do này như một cơ hội để khám phá những niềm vui, hứng khởi và mọi người…
Vậy là, tự do trở thành một phương tiện, một công cụ dựng xây cho ta niềm hạnh phúc, một thứ hạnh phúc mà ta phải chịu trách nhiệm.
(Trích: TỰ DO VÀ KHÔNG TỰ DO)

NHỮNG CUỐN SÁCH SẮP ĐƯỢC RĂ MẮT:
CÁC CUỐN TRONG CÙNG SERI
1. Sử dụng thời gian và để mất thời gian
2. Lãnh đạo và những người khác
3. Tự do và không tự do
4. Tự hào và Xấu hổ
5. Đẹp và Xấu
6. Thành công và thất bại

Nguồn tin: giadinhbook

Categories: Uncategorized Thẻ:

LỄ HỘI SÁCH TUỔI THƠ DÀNH CHO TRẺ…

LỄ HỘI SÁCH TUỔI THƠ – DÀNH CHO TRẺ MẦM NON
Từ ngày 27 đến 30 tháng 9 năm 2011, Công ty sách Gia Định khởi động lại chương trình LỄ HỘI SÁCH
TUỔI THƠ – DÀNH CHO MẦM NON tại các trường mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh với quy mô và nhiều sân chơi bổ ích cho trẻ mầm non.
Cha mẹ, các cô và các bé quan tâm truy cập trang http://www.giadinhbook.com.vn để biết thêm thông tin tổ chức Lễ Hội sách dành cho trẻ Mầm Non tại một số trường Mầm non.

Mọi thông tin liên hệ để được tổ chức xin liên hệ về:

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ SÁCH GIA ĐỊNH
6/20A, Khu phố 10, Lê Đức Thọ, P.16, Q.Gò Vấp, TP.HCM
Tel: 08-73 03 68 03 – 38 948 660; Fax: 08-73 03 68 05
Mobi: 0127 38 09 558 – 0983 709 558
Email: giadinhbook@gmail.com ; info@giadinhbook.com.vn
http://www.giadinhbook.com.vn
( Hoặc đặt hàng cung cấp cho thư viện trường – Bậc học Mầm Non)
Người phụ trách chương trình : Vũ Thị Hoàng Yến

Hương mật tựa khói sương


Thời Thượng cổ, Thiên Nguyên hai mươi vạn năm, tiết Sương giáng. Hoa Thần Tử Phân sau khi sinh hạ sinh con gái thì từ trần, trước khi lâm chung đã cho kỳ nữ uống một viên Tuyệt Tình đan, giao cho thuộc hạ bảo vệ bí mật về kỳ nữ, rồi đem nàng giấu vào trong “Thuỷ Kính” bốn vạn năm. Kỳ nữ này mang danh Cẩm Mịch. Bốn ngàn năm sau, người con thứ của Thiên Đế Hoả Thần – Phượng Hoàng bị hai rơi vào “Thuỷ Kính”, đã được Cẩm Mịch ngây thơ cứu giúp, hơn một trăm năm ở chung, Hoả Thần dần nảy sinh tình cảm với Cẩm Mịch. Người con cả của Thiên đế là Dạ Thần và người con thứ – Hoả Thần Phượng Hoàng bất hoà với nhau, hắn vốn muốn lợi dụng Cẩm Mịch để bức hiếp Hoả Thần, nào ngờ lại bị Cẩm Mịch thu hút làm cho say đắm… Nơi giao nhau giữa Thiên giới và Ma giới sâu thẳm không lường, bên bờ Vong Xuyên, cuộc chiến giữa Hoả Thần và Dạ Thần cuối cùng cũng đã xảy ra. Nhưng nào ngờ, dong chí mạng của hai người bọn họ không đánh trúng đối phương mà song song đánh cùng vào người họ yêu thương nhất – Cẩm Mịch. Cẩm Mịch đã hồn siêu phách tán hay linh hồn vẫn còn vương vấn? Giữa Hoả Thần và Dạ Thần cuối cùng người nàng yêu là ai? Thần tiên, yêu quái, người phàm, đâu mới là thân phận cuối cùng của nàng? Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

…………

Sách đặt mua với số lượng lớn ĐỂ HƯỞNG CHIẾT KHẤU ƯU ĐÃI, hãy liên hệ với chúng tôi! Tổng phát hành tại TP. HCM – Nhà sách Gia Định (6/20A, Lê Đức Thọ, P.16, Q.Gò Vấp. Tel: 08-73 03 68 03 – 08-389 48 660; Mobi: 0904 214 990 – 0987 64 39 39 Email: giadinhbook@gmail.com hoặc info@giadinhbook.com.vn (Nhà cung cấp bán Sỉ, Lẻ sách tại TP.HCM)

http://www.giadinhbook.com.vn (Nhà sách online)

Categories: Uncategorized

Bí mật tình yêu phố Angel, tập 7


Thần tượng Sun lộ rõ lòng dạ đen tối của mình. Kim Nguyệt Dạ, Lý Triết Vũ cùng Tô Hựu Tuệ xuống đường hầm tìm kho báu trong ngôi nhà cổ số 23 phố Angel. Khi cuộc tranh chấp giữa Sun và bè đảng cùng nhóm Dạ, Vũ, Tuệ… trong lòng giếng cổ chưa đến hồi kết thì bất ngờ nước dâng lên, để cứu các bạn của mình, Lý Triết Vũ đã chấp nhận ở lại…Trên cánh đồng hoa oải hương, Tô Hựu Tuệ đã nhận ra tình cảm thật của Dạ và Vũ dành cho mình. Gia đình, bạn bè… đều đau buồn tưởng niệm Lý Triết Vũ. Nhưng chàng hoàng tử ấy có chết thật không bởi tiếng piano vẫn thánh thót vọng vang nhắn nhủ lời thương yêu…

Các bạn tìm đọc trọn bộ 7 tập, đặt mua qua giadinhbook để được giảm đến 15%/ bộ 7 cuốn

hoặc gọi điện trực tiếp cho chúng tôi để được giao hàng tận nơi: 0904214990 -(08)73 036803
Nhà sách online: http://www.giadinhbook.com.vn
http://www.giadinhbook.com.vn

Trân trọng giới thiệu cùng các em

Categories: Uncategorized

Người đàn ông quyến rũ nhất còn sót lại

Cuốn sách NGƯỜI ĐÀN ÔNG QUYẾN RŨ NHẤT CÒN SÓT LẠI phát hành tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8/09/2011
Tổng phát hành tại Nhà sách GIA ĐỊNH
Số 6/20A Lê Đức Thọ, P.16, Q. Gò Vấp
Mobi: 0904214990
http://www.giadinhbook.com.vn

Người đàn ông quyến rũ nhất còn sót lại


Trích đoạn hấp dẫn trong NGƯỜI ĐÀN ÔNG QUYẾN RŨ NHẤT CÒN SÓT LẠI
Tìm mua sách online: http://www.giadinhbook.com.vn

* Cuộc chạm trán đầu tiên:

Taylor bắt đầu câu hỏi đầu tiên trong phiên thẩm vấn giả.

“Anh Andrews, anh đã được hay là không được thông báo rằng cô trợ lý của anh đã sắp xếp một buổi bàn về công việc tại văn phòng tôi vào thứ năm tuần trước?”

Jayson mỉm cười, cứ như câu hỏi của cô thú vị lắm. Anh khoan khoái ngả lưng vào ghế. “Có, tôi đã biết chuyện đó, thưa cô Donovan.”

“Và anh đã không đến buổi hẹn, đúng không?”

“Chính xác!”

“Anh cũng đã được cho biết sau khi quên xuất hiện ở buổi gặp đó, cô trợ lý của anh đã tiếp tục sắp xếp một buổi gặp khác cũng tại văn phòng tôi vào sáng thứ sáu, đúng không?”

Jason duỗi người, bắt chéo chân, dửng dưng với câu hỏi mà anh nghĩ có phần nhạt nhẽo này. “Điều đó cũng đúng luôn. Như tôi đã trình bày từ sớm, tôi bị kẹt mấy việc ngoài dự tính. Chuyện khẩn cấp cho bộ phim của tôi”. Khi nói đến đây, tự nhiên anh xoay xoay cái đồng hồ nơi cổ tay.

Taylor nhướng mày tỏ vẻ không tin. “Chuyện khẩn cấp cho bộ phim?”

“Tất nhiên rồi!”

Để chuyện ấy lát nữa tính, cô bước đến bàn dành cho luật sư và lôi chiếc di động ra khỏi cặp. “Để tôi cho anh xem vật chứng A nhé!”

Cô tiến đến chỗ Jason và giơ cao chiếc điện thoại lên.

“Anh có nhận ra vật chứng A này không, Ngài Andrews?”

Jason chồm người lên phía trước và nhìn chiếc điện thoại với điệu bộ hoài nghi. “ À, giờ thì… tôi không chắc lắm… nhưng nhìn nó giống một cái di động.”

“Anh có dùng điện thoại di động không, anh Andrews?”

“Tôi dùng tới ba cái.”

“Vậy anh có biết cách dùng cả ba chiếc điện thoại không?”

Jason chiều ý trả lời cô bằng một nụ cười. “Dĩ nhiên rồi.”

Tới đây, Taylor khẽ lùi lại, ngồi nơi mép bàn luật sư.

Đã đến lúc ra đòn quyết liệt, cô quyết định. Jason ngắm Taylor ung dung bắt chéo đôi chân đi giày cao gót và không cưỡng lại nổi, anh liếc nhanh xuống đôi chân thon dài rồi vội vàng nhìn lên.

Khi bắt gặp ánh mắt của Taylor, anh phát hiện một tia nhìn giễu cợt trong mắt cô. Lúc ấy, anh nhận ra một điều.

Cô đang bỡn cợt anh.

Taylor bất động cho đến lúc cô cảm thấy hài lòng vì ánh mắt Jason đã tập trung lại nơi cô. Cô tiếp tục đặt câu hỏi.

“Anh có đem theo người cái điện thoại nào trong ba cái di động của anh khi anh đến Las Vegas cuối tuần vừa rồi không, Ngài Andrews?”

“Dĩ nhiên có rồi.”

“Vậy có nghĩa là anh có đầy đủ khả năng và phương tiện để gọi về văn phòng tôi và thông báo rằng cuộc hẹn của chúng ta sẽ bị hoãn đúng không?”

Jason bật cười cứ như vừa nghe một câu chuyện đại tiếu lâm. “Chẳng lẽ tôi giống như mấy gã phải tự mình đi gọi những cuộc điện thoại kiểu như vậy sao?”

Taylor đứng dậy và đủng đỉnh tiến đến bục nhân chứng. “Vậy thì anh không thể yêu cầu một trong cả tá trợ lý của mình gọi cho tôi sao? Hay là công việc ở khách sạn Bellagio, à không, xin lỗi nhé, việc khẩn cấp cho bộ phim của anh” – cô ra dấu mở ngoặc kép, đóng ngoặc kép kiểu trích dẫn – “quá bừa bộn” nên anh không có thời gian để làm chuyện đó?”

Taylor hào hứng chờ đợi câu trả lời của Jason.

Anh né câu hỏi một cách dễ dàng. Anh đã hi vọng rằng cô sẽ làm tốt hơn thế chứ. “Cô bắt thóp được tôi rồi, cô Donovan. Tôi đã ở Las Vegas. Kỹ năng luật của cô rất ấn tượng, nói cho cùng thì tôi chỉ bị nhìn thấy ở đótrên tivi thôi.”

“Vậy lý do cho việc anh không nhờ bất cứ ai gọi điện đến văn phòng tôi là gì?”

“Tôi chẳng lấy đó là quan trọng”, anh trả lời nhẹ nhàng. “Tôi nghĩ tôi không cần phải có lời giải thích.”

“Chà, nếu đấy là sự thật”, Taylor nhấn mạnh, “thì tại sao lúc đầu anh lại bịa ra câu chuyện về vấn đề khẩn cấp của bộ phim?”

Jason “đứng hình”.

Xong phim!

Anh ngọ nguậy một cách không được thoải mái trong chiếc ghế, bỗng thấy mình rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan với “chứng cớ” của chính mình.

Taylor tiến sát tới bục nhân chứng, mắt cô ánh lên vẻ đắc thắng. “Thật ra thì anh có mục đích gì khi đến đây, Ngài Andrews? Anh nghĩ là chỉ cần bước vào và nở nụ cười rạng rỡ thì sẽ không có ai thắc mắc gì hay sao?”

Thật sự thì đó đúng là kế hoạch của anh.

Jason khoanh tay ngang ngực, nhún vai thay cho câu trả lời.

Taylor chộp ngay cơ hội, giọng cô đầy châm biếm. “Ôi trời! Xin lỗi Ngài Andrews nhé! Nhưng mà câu trả lời của anh cần phải được nói thành tiếng để thư ký tòa còn ghi nhận. Câu trả lời của anh là “đúng”, đúng không?”

Jason nhìn xoáy vào Taylor, bực bội với giọng điệu của cô. Cô cũng lạnh lùng nhìn đáp trả. “Đúng, thưa cô Donovan”. Cuối cùng anh cũng chịu trả lời. “Đó đúng là kế hoạch của tôi. Chỉ cần nở một nụ cười và không ai còn thắc mắc gì hơn nữa.”

Cô nghiêng người tới bục dành cho nhân chứng. “Vậy kế hoạch của anh tiến triển thế nào, Ngài Andrews?”

Anh trừng trừng nhìn cô. “Không thành công lắm.”

Taylor mỉm cười tự tin như muốn nói rằng cô đã hoàn tất công việc. “Tốt! Tôi không còn gì để hỏi.”

Rồi cô ngạo nghễ đi về bàn dành cho luật sư, nhặt túi xách khoác lên vai. Không buồn liếc lại lần thứ hai, bước ra khỏi phòng xử với vị thế ngẩng cao đầu. Cánh cửa được mở tung ra rồi đóng lại sau lưng cô.

Để Jason lại một mình.

Ngồi ngẩn ngơ ở bục nhân chứng.

Các cuộc chạm trán tiếp theo:

Không muốn gây thêm sự chú ý, Taylor kéo tay cầm ở cửa, quả quyết bước vào phòng. “Ngài And…”

Giọng nói của cô nhỏ dần đi khi Jason – người đang đứng ngắm cảnh từ cửa sổ trong văn phòng của cô – xoay người lại ngay lập tức khi cô bước chân vào phòng. Như một cảnh trong phim, ánh bình minh lan tỏa xung quanh khiến Jason trông như một vị thần, mái tóc sẫm màu tạo cảm giác ấm áp và mắt anh lấp lánh một màu xanh thẫm, đẹp hơn cả biển Thái Bình Dương.

Đầu cô trở nên trống rỗng. Dường như cô chẳng thể nào nhớ nổi lý do tại sao cô từng nổi cáu với Jason Andrews nữa.

Nhưng khi anh ta dài giọng: “Ngủ đã chưa, cô Donovan?”, khoảnh khắc đó ngay lập tức kết thúc.

“Được gặp lại anh thật vui, anh Andrews”, Taylor trả lời một cách mỉa mai. Ít nhất, hôm nay anh ta cũng chịu mặc complê đàng hoàng, cô ghi nhận. Nhưng xin miễn bình luận việc nhìn anh ta hấp dẫn thế nào trong bộ complê đi.

Jason lôi ra từ sau lưng một hộp hơi to được trang trí bằng dây ruy băng buộc nơ xung quanh.

“Tôi mang đến cho cô một món quà cầu hòa.”

Anh chìa cái hộp ra trước mắt cô.

Taylor nhìn nó với vẻ đầy bất ngờ. Sau khi do dự một lúc, cô cầm lấy rồi ngồi xuống bàn làm việc. Jason thả mình xuống ghế đối diện với cô.

“Tôi đoán cô không phải loại phụ nữ thích lòe loẹt”, anh nói. Taylor liếc vội anh, tự hỏi tại sao anh biết điều này khi hai người chỉ mới biết nhau một thời gian rất ngắn.

“Cái này có vẻ hợp với cô hơn. Tôi nghĩ lần sau ra tòa, cô có thể mặc nó.”

Cô nhướng mày nghi ngờ kiểu “thật hả?”. Nhưng cô chẳng khai thác được gì thêm từ vẻ mặt của Jason.

Tò mò chịu không nổi, Taylor mở hộp. Cô lục trong mớ giấy gói cho đến khi tìm thấy một chiếc áo thun. Khi rũ nó ra, Taylor thấy có hai từ in trên áo đề cập đến cuộc tranh cãi nổi tiếng của cô ở tòa lần trước: SHIT HAPPENS (Chuyện đen đủi hay những điều không hay trong cuộc sống thì không thể tránh khỏi, cái cơ bản là phải biết chấp nhận mà sống.)

Taylor bật cười khanh khách.

Cô nhìn Jason, miễn cưỡng lộ vẻ thích thú với câu đùa và mỉm cười. “Được rồi, Ngài Andrews”, cô xuống nước. “Bắt đầu nhé!”

Khi Jason len qua đám đông, anh chắc rằng thế nào cũng có những ý tưởng thông minh và lỗi lạc bật ra để khi đến bên cạnh Taylor, anh có thể nói với cô. Thế nhưng khi anh tiến gần đến mức có thể cảm nhận được hơi ấm của cô thì chẳng có gì thông minh và lỗi lạc nảy ra trong đầu cả. Thành thật mà nói, nhìn chung, ngay lúc ấy, suy nghĩ là việc quá khả năng của anh.

Là vì cô. Với cái cách cô ăn vận lộng lẫy như tối nay, anh sẽ chẳng thể nào quên được.

Cô mặc một chiếc váy choàng kiểu Hy Lạp bằng vải sa tanh trắng muốt ôm vừa khít người một cách duyên dáng, thanh lịch. Ngược lại với kiểu bới cao tóc của những quý bà sang trọng trong buổi dạ vũ, cô để mái tóc dài của mình xõa tự nhiên. Mái tóc dài màu nâu sẫm, dày, gợn sóng và cả chút hoang dã gợi tình.

Với trang phục màu đen lộng lẫy cùng trang sức kim cương đắt tiền, những người phụ nữ khác tại buổi dạ vũ trông như những nàng công chúa. Nhưng với Jason, Taylor là một nữ thần.

Anh đứng sững lại khiến cô bắt đầu lo lắng khi thấy anh chẳng nói gì cả.

“Em đẹp quá, Taylor!”, cuối cùng anh cũng thốt được nên lời.

Má cô ửng hồng vì lời khen. “Nhờ chiếc váy thôi mà.”

Không! Tất cả là ở em, anh gần như muốn thốt ra. Nhưng chẳng hiểu sao lại không nói nên lời được.

“Chàng đâu rồi?”. Anh hỏi lấp liếm.

Taylor chỉ tay về phía sàn nhảy, nơi Scott và đám bạn đang cụng ly ầm ầm.

“Đằng kia kìa, tụ tập với mấy người trong nhóm bằng hữu của anh ta.”

Jason cười toe toét. “Chắc sắp có phim mới để coi đây.”

Taylor quay lại, nhìn chằm chặp vào anh. “Vậy… nàng của anh đâu?”

“Chẳng có ai cả. Trừ khi em tính luôn cả thằng quỷ Jeremy, còn anh dĩ nhiên là không rồi. Cậu ta đang cảm nắng cô con gái của Bredstone nên anh dắt nó theo.”

Taylor gật đầu. Liệu có phải cô đang thấy nhẹ lòng vì sự thật là anh chẳng hề rủ rê cô nàng nào tới buổi dạ vũ này chăng? Và chỉ có một câu trả lời cho vấn đề đó mà thôi.

Jason đưa tay ra.

“Nhảy với anh đi, Taylor!”

Cô ngại ngần một phút rồi im lặng nắm lấy tay anh.

Jason dắt cô ra ngoài sàn khiêu vũ. Nhiều cặp đôi đang đu đưa theo điệu nhạc khi bản Fade you của Mazzy Star vang lên. Trong đám đông, Jason phát hiện ra vài tay săn ảnh đang phấn khích chờ đợi ở bên lề sàn nhảy. Nhìn quanh, anh tìm được một khu vực có vẻ khá kín đáo vì được nhiều nhánh cây thấp vươn vào che khuất. Anh dắt Taylor đến đó, ôm cô vào vòng tay mình.

Họ khiêu vũ chầm chậm theo điệu nhạc, trước mặt là hàng ngàn vì sao lung linh được tạo bởi những luồng sáng xuyên qua các nhánh cây. Trong một lúc lâu, cả hai chẳng nói với nhau lời nào. Jason muốn tận hưởng vị ngọt ngào khi tay cô đang nằm gọn trong tay anh, cả cái cảm giác ấm áp khi tay còn lại của anh vòng qua eo cô. Với đôi giày cao gót, đỉnh đầu cô gần như chạm tới cằm anh. Anh nhận ra rằng anh có thể thầm thì bất cứ điều gì vào tai cô và chỉ mình cô có thể nghe thấy.

“Anh đang nghĩ”, anh dịu dàng cất lời, “dường như em đã thoát khỏi anh rồi đó.”

Taylor ngước nhìn anh. “Ý anh là sao?”

“Ừ thì công việc sửa kịch bản của em cũng gần như xong rồi, chúng ta cũng chẳng còn buổi hẹn nào để em trả ơn anh về việc đối phó với bọn săn ảnh, báo chí, và như anh biết, em cũng chẳng có bạn bè nào ở nơi này để…”

Taylor mỉm cười. “Valerie vẫn nói hoài về buổi tối hôm ấy.”

“Trừ khi em tính lấy búa đập vào đầu để lăn quay ra xỉu, chứ bây giờ em chẳng có gì phải lo về triệu chứng mơ màng vì chấn thương đầu nữa”, Jason chọc. Nhưng ngay sau đấy, anh trở nên nghiêm túc. “Nên anh nghĩ không còn lý do gì để giữ em bên cạnh mình nữa.”

Taylor thăm dò anh bằng đôi mắt xanh sâu thẳm. “Nhưng nếu em chỉ thích được ở bên cạnh anh thì sao?”.

Jason nín thở. “Thật không?”

Cô chầm chậm gật đầu. “Em muốn nói với anh chuyện này, Jason. Em biết em đã xử sự không tốt với anh trước kia, nhưng…”. Giọng cô nhỏ dần, với vẻ ngập ngừng, cô nhìn thẳng vào mắt anh. “Em đã nghĩ sai về anh. Mấy tuần vừa qua, em chợt nhận ra rằng, nếu bỏ qua những chiếc máy ghi hình, báo chí, kể cả căn nhà to lớn đồ sộ và cả chiếc xe lộng lẫy kia… thì người đàn ông còn lại ấy cũng không tệ tí nào. Sự thật thì em đã dần dần thích anh ta rồi.”

Đó, chính là vậy đó. Những câu từ tưởng chừng như rất đơn giản ấy lại tác động đến Jason hơn tất cả các thứ khác.

Jason cất lời trước với một giọng nói đều đều và lạnh nhạt. “Em làm gì ở đây thế?”

Taylor mỉm cười bối rối, cô cố đùa. “Em hả, chỉ là em nghe người ta nói anh đang ở đây nên…”

Jason lắc đầu. “Taylor, bây giờ không phải là lúc để châm biếm nhau nữa.”

Cô thấy hốt hoảng. Không đùa, không châm biếm ư? Nhưng… đó là vũ khí của cô mà. Không có nó, cô trơ trọi và yếu đuối lắm.

Ngay lúc đó, một chiếc máy ảnh bắt đầu nháy lên, tia sáng lóe ngay trong mắt Taylor. Rồi cứ thế, chiếc này nối tiếp chiếc kia, mười, hai mươi… cô quay đi, cố làm quen với ánh đèn lóe sáng đó. Khi đã quen dần, cô thấy đám đông và những vị khách mời đang đứng trên thảm đỏ đang nhìn cô chăm chú.

Và chờ đợi.

Thấy cô chìm vào im lặng, gương mặt Jason chuyển từ vô hồn sang lạnh nhạt. Anh quay lại và tiến đến cửa rạp hát.

Taylor bừng tỉnh. “Jason, chờ đã! Cho em một cơ…”

Anh quay người lại, giận dữ cắt ngang lời cô. “Tại sao em lại tới đây? Câu hỏi này chẳng lẽ khó lắm sao, Taylor? Chỉ một lần này thôi, anh muốn nghe câu trả lời thẳng thắn từ em.”

Taylor gật đầu. Ừ, chỉ là một câu hỏi đơn giản thôi mà! Nhưng cô quá sợ khi phải làm những chuyện như vậy, trải lòng ra và trút hết bầu tâm sự. Nhưng cô biết đây chính là KHOẢNH KHẮC cần thiết. Là cơ hội duy nhất của cô. Mặc kệ cả nghìn người đang theo dõi, mặc kệ lòng kiêu hãnh có thể bị tổn thương, bằng tất cả sự dũng cảm của mình, Taylor quay sang người đàn ông đào hoa nhất nước Mỹ.

“Em ở đây là vì anh, Jason. Bởi vì em đã nhận ra rằng người duy nhất có thể làm tan nát trái tim em cũng chính là người duy nhất xứng đáng được có nó.”

Cả đám đông chìm trong sự im lặng đáng sợ.

Jason chớp mắt, sững sờ vì câu nói của Taylor.

Một khoảnh khắc im lặng kéo dài đến nhói tim, Taylor thấy trống ngực cô đập thình thịch. Cũng phải… có lẽ cô đã hơi quá đà…

Hoặc là cô đã sai.

Nhưng bỗng nhiên, Jason hăm hở bước trên thảm đỏ. Anh tiến đến trước mặt Taylor và ôm chặt eo cô, bất giác, cô cũng choàng tay qua cổ anh. Máy ảnh, phóng viên, cả thế giới này nữa, đều tan biến dưới chân họ, và …

Anh hôn cô.

Đám đông một lần nữa lại trở nên phát cuồng.

Hôn vậy mới là hôn chứ! Vang vọng từ đâu đó xa xa, hình như cô đang nghe thấy tiếng gào rú của đám đông, tiếng vỗ tay nhiệt liệt, nhưng nói thật, ngay bây giờ, cô chẳng thèm để ý tới bất kỳ điều gì nữa. Jason, trong giây phút này, là điều duy nhất cô khao khát.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

………….

Sách đặt mua với số lượng lớn ĐỂ HƯỞNG CHIẾT KHẤU ƯU ĐÃI, hãy liên hệ với chúng tôi!
Tổng phát hành tại TP. HCM – Nhà sách Gia Định (08-73 03 68 03; 0904 214 990 – 0987 64 39 39 )
Email: giadinhbook@gmail.com hoặc info@giadinhbook.com.vn
(Nhà cung cấp bán Sỉ, Lẻ sách tại TP.HCM)

Nỗi sợ Đàn ông 30 +

NỖI SỢ ĐÀN ÔNG 30+
Tuổi ba mươi, 8X đời đầu, biết một ngoại ngữ, có xe hai bánh, có ba mối tình vắt vai và nhảy việc chừng bốn năm bận. Đàn ông 30+ có tiền trong túi, có vị trí trong công sở, có một tình sử dồi dào, từng trải bặt thiệp và hiểu rõ về phụ nữ, họ còn sợ gì nữa đây?

Họ sợ tình yêu.

30+ dễ thích nhưng khó yêu. 30 trở ra, bạn bè bắt đầu chưng ảnh cưới, ảnh con trên blog, mình vẫn còn tự do, thấy vừa thoải mái vừa trống trải. Nhưng cuộc sống đã đổi thay, phụ nữ thích thì dễ dàng lắm, thậm chí lên giường cũng dễ. Nhưng yêu sâu sắc một cô gái thì thấy khó làm sao.

Sợ những người phụ nữ quá tốt với họ.

Sau tuổi ba mươi, đàn ông cảnh giác hơn. Trước đây một phụ nữ tốt với họ sẽ làm đàn ông cảm động, thậm chí thành bạn thân, thành người yêu, thành người chị thân thiết. Nhưng sau ba mươi, khi sự tự chủ và độc lập của đàn ông đã chín muồi, một người phụ nữ quá tốt với họ sẽ khiến đàn ông rụt lại và cảnh giác, nghĩ về động cơ của nàng, vị trí của nàng. Thậm chí, bởi vì họ đối xử chăm sóc quá tốt với đàn ông, đàn ông sợ bị mất sự tự chủ, sợ bị ràng buộc, hàm ơn.

Sợ phụ nữ si tình.

Họ sợ bị đeo bám suốt ngày, bị hỏi han quan tâm, bị kiểm soát dưới danh nghĩa tình yêu. Mười bẩy tuổi thấy được yêu là diễm phúc, ngoài ba mươi thấy được yêu là phiền toái. Hay nói cách khác, đàn ông nghĩ đeo bám là đặc quyền của đàn ông. Đàn ông đeo bám phụ nữ để chinh phục tình yêu thì được. Đàn ông bị đeo bám nào vẻ vang gì?

Sợ hôn nhân.

Họ không sợ kết hôn. Nhưng họ sợ người yêu bóng gió chuyện hôn nhân với họ. Đi shopping họ ghét nhất phải qua khu nội thất, bạn gái trầm trồ trước chiếc giường đôi, tủ áo lớn, hay bàn ghế gia đình, như ám chỉ rằng chúng ta cũng nên nghĩ tới tương lai. Phụ nữ luôn lấy tình yêu để ràng buộc người đàn ông vào hôn nhân, yêu nhau tất sẽ cưới nhau. Trong khi có lẽ, nhiều đàn ông không nghĩ rằng sẽ chôn tình yêu trong chiếc giường đôi hay căn phòng ngủ của gia đình. Họ yêu vì tình yêu với cô gái chứ không yêu bà vợ tương lai trong vóc dáng cô gái.

Sợ một người phụ nữ than thở.

Cho dù lỗi không phải do đàn ông gây ra, họ vẫn sợ một người đàn bà tìm đến trút bầu tâm sự. Những năm tháng họ sẵn sàng để đồng cảm với những tâm sự uẩn ức, tò mò khám phá thế giới tâm lý phụ nữ đã qua rất lâu rồi. Giờ họ biết mọi kịch bản đều dẫn tới nước mắt, mọi nỗi khổ của phụ nữ họ chỉ khoanh tay đứng bên mà thôi. Và nếu đàn ông tỏ ra thiện chí, cảm thông, đảm bảo phụ nữ sẽ tái diễn màn kịch nước mắt bất cứ lúc nào. Trong khi đàn ông thấy, nước mắt rầy rà và chớ có dính líu tới những tâm sự vô tiền khoáng hậu của phụ nữ. Tôi có một người bạn nam giới, đã thản nhiên tắt máy khi cô người yêu cũ gọi điện tới thở than nuối tiếc và than vãn về ông chồng mới của nàng. Tôi hỏi vì sao, bạn nói, bạn không muốn cho cô ta một tia hy vọng, cô ta sẽ sẵn sàng mở toang cánh cửa, phụ nữ hay nhầm lẫn tình thương và tình yêu. Mà bạn, sợ nhất là phải bước vào đời một người phụ nữ vì thương hại cô ta.

Sợ bị phát hiện ra, mình đang quan tâm tới ông bồ mới của nàng.

Chia tay rồi, ai theo đường tình của người ấy, phụ nữ thường rất quan tâm xem, bỏ mình rồi anh ta sẽ yêu ai. Đàn ông cũng vậy. Câu lạc bộ những ông bồ cũ rất thích tám với nhau về chuyện, gã bồ mới của nàng còn tệ hại hơn mình thế nào. Tuy nhiên, đàn ông 30+ thích quan sát từ trong bóng tối.

Sợ sự níu kéo sau khi chia tay.

Phụ nữ có thể quay trở lại, vì yêu và tha thứ, vì những hồi ức tốt đẹp. Nhưng đàn ông khó dứt áo ra đi, chia tay dằng dai lại không phải vì tình yêu, mà vì cảm giác áy náy. Họ áy náy với người phụ nữ, với những hồi ức không tốt đẹp. Bởi đàn ông 30+ chia tay xong trước mặt còn cả chân trời. Phụ nữ 30+ chia tay xong chân trời ấy ở lại đằng sau.

Sợ sự gợi cảm.

Vì sự gợi cảm của phụ nữ dẫn đàn ông sau ba mươi đi một con đường khác mà họ không kiểm soát nổi. Đàn ông 30+ đủ từng trải để nhận ra được giá trị của một phụ nữ, cũng như sự hấp dẫn nhiều mặt của một phụ nữ. Ngày đôi mươi nghĩ thiếu nữ mảnh mai xinh xắn là đẹp, 30+ thấy phụ nữ một con thật đầy đặn dễ gợi và hấp dẫn đầy sức sống. Thẩm mỹ thay đổi có lẽ là dấu hiệu của một người đàn ông trưởng thành, chín chắn.

Sợ nàng để quên gì ở lại.

Những mối quan hệ diễn tiến rạch ròi, đàn ông 30+ có thể yêu hoặc không yêu người phụ nữ đêm qua trên giường mình. Nhưng đàn ông sợ phụ nữ bỏ thêm bàn chải đánh răng của nàng vào phòng tắm, mua thêm một chai sữa tắm mùi hoa nàng thích, bỏ lại tạm một tấm áo khoác trong nhà mình. Bởi tất cả là tín hiệu nói rằng, nàng sẽ trở lại nữa, nàng muốn hiện diện nhiều hơn trong nhà đàn ông, nàng bắt đầu tìm chỗ cho bản thân trong đời chàng, trong khi, có thể với đàn ông 30+, họ ghét bị động, bị tấn công, bị tiến tới.

Tôi nghĩ những nỗi sợ của đàn ông 30+ thực chất là bởi, họ đã quá thấu hiểu bản thân mình. Và họ bắt đầu muốn lựa chọn lấy một giới hạn cho bản thân, một ranh giới an toàn, mà ở trong đó, họ không bị đàn bà thách thức.

Thì ra, dù trước hay sau tuổi ba mươi, đôi khi vẫn phải dùng đàn bà để đo lường những giá trị đàn ông.

Trang Hạ

Categories: Uncategorized Thẻ:
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.